 |
|  |
| |
Lịch Sử |
11-07-2008
|
|
| |
Lịch sử quốc ngữ (I)
 Trần Gia Phụng
Quốc ngữ là chữ viết chung của dân chúng cả nước. Từ thời Ngô Quyền lập quốc (939), các triều đại cầm quyền đã mượn chữ Nho (chữ Hán) để sử dụng trong hành chánh, học thuật. Dầu vậy, người Việt vẫn nói tiếng Việt, không công nhận chữ Nho là quốc ngữ, và tìm cách sáng tạo ra quốc ngữ cho riêng mình.
 | Văn Miếu Hà Nội - Chu Văn An (1292-1370) Nguồn: chimviet.free.fr
|
Đầu tiên, người Việt dựa trên chữ Nho để chế ra chữ Nôm. Chữ Nôm được ghi nhận chính thức xuất hiện vào thế kỷ 13, khi Nguyễn Thuyên, lúc đó đang là hình bộ thượng thư dưới triều Trần Nhân Tông (1279-1293), làm bài văn “Tế cá sấu” bằng chữ Nôm. Vào thời nầy, chữ Nôm được xem là quốc ngữ bên cạnh chữ Nho, nên tập thơ chữ Nôm của Chu Văn An (? - 1370) được ông gọi là Quốc ngữ thi tập (Tập thơ quốc ngữ).( 1) Tuy nhiên, chữ Nôm cấu tạo trên căn bản chữ Nho, nên muốn học chữ Nôm thì phải biết chữ Nho tức chữ Hán.( 2) Vì vậy chữ Nôm khó học, không phổ thông trong dân chúng, và ít được sử dụng.
Từ thế kỷ 17 trở đi, một thứ chữ mới xuất hiện. Nhờ giản dị, dễ sử dụng, sau ba trăm năm thử nghiệm, loại chữ nầy càng ngày càng trở nên phổ thông và biến thành quốc ngữ, mà ngày nay người Việt đang sử dụng.
I. Vì sao xuất hiện quốc ngữ?
Từ thế kỷ 16, các giáo sĩ Ky-Tô Tây phương bắt đầu đến truyền giáo tại nước ta. Lúc đầu, các giáo sĩ thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, theo các dòng tu khác nhau, thuộc nhiều giáo phận khác nhau, trong đó đông nhất là các giáo sĩ Dòng Tên.( 3)
Khi đến Đại Việt bằng tàu thuyền, các giáo sĩ đặt chân đầu tiên lên miền duyên hải. Muốn giảng đạo, các ông không đến rồi đi liền, mà ở lại sống chung dài hạn lẫn lộn với dân chúng. Muốn thế đầu tiên các giáo sĩ phải học nói tiếng Việt để giao tiếp hằng ngày. Tập nói để hiểu được người Việt và làm sao nói cho người Việt hiểu được mình, các giáo sĩ mới có thể bắt đầu truyền đạo.
Khi truyền đạo, các giáo sĩ không phải chỉ nói, mà còn dùng kinh sách để giảng giải. Ngoài kinh sách bằng chữ la-tinh, các giáo sĩ có thể sẵn có Thánh kinh bằng chữ Nho (chữ Hán) do các cơ sở ở Ma Cao cung cấp. (Ma Cao -Trung Hoa - là nơi các dòng tu Ky-Tô giáo La Mã đặt trụ sở để truyền đạo vào Trung Hoa và qua Nhật Bản.) Tuy nhiên ít người trong dân chúng biết chữ Nho, nhất là ở các vùng nông thôn vốn nghèo khổ, ít học.
Vì vậy, để truyền đạo cho người Việt, các giáo sĩ phải viết kinh sách bằng tiếng Việt. Học nói thì không cần chữ nghĩa, nhưng kinh sách thì phải có chữ nghĩa. Không thể dùng chữ Nôm để viết tiếng Việt, các giáo sĩ ký âm thẳng tiếng Việt bằng mẫu tự la-tinh, rồi mới dùng thứ chữ mới ký âm nầy để viết sách giáo lý bằng tiếng Việt. Mẫu tự la-tinh chỉ gồm 24 chữ cái, có thể dùng để lắp ghép thành các từ ngữ trong tiếng Việt, nên thứ chữ mới nầy giản dị, dễ học, dễ viết, dễ sử dụng, dễ truyền bá.
Từ đó, các giáo sĩ và những người Việt tân tòng hoặc học đạo với các giáo sĩ, đã hợp tác và tạo nên một thứ chữ mới vào thời đó, mà học giả Petrus Trương Vĩnh Ký gọi là “quốc ngữ” trong một bài viết trên Gia Định Báo ngày15/04/1867.( 4)
II. Các giai đoạn hình thành quốc ngữ
Giai đoạn 1: Nhu cầu truyền đạo của các giáo sĩ
Các giáo sĩ Ky-Tô La Mã đến Đại Việt để truyền đạo. Vì nhu cầu truyền đạo, các ông sáng chế chữ quốc ngữ chỉ để làm phương tiện phổ biến rộng rãi giáo lý đạo Ky-Tô, chứ không nhắm mục đích tạo nên một thứ chữ mới cho dân Việt sử dụng.
Người có công đầu trong việc sáng chế quốc ngữ là linh mục Francesco de Pina (1585-1625), một giáo sĩ Dòng Tên, người Bồ Đào Nha (Portugese), đến Đàng Trong năm 1617, từ trần vì đắm thuyền ở vịnh Đà Nẵng năm 1625. Ông là người đầu tiên nói thạo và giảng đạo bằng tiếng Việt. Hợp tác với nhiều người, và đặc biệt, nhờ sự giúp đỡ của một thanh niên Việt có tên đạo là Phê-rô, De Pina đã khởi thảo la-tinh hóa tiếng Việt, soạn thảo một bản văn phạm quốc ngữ, dịch và soạn sách giáo lý đạo Ky-Tô bằng tiếng Việt, mở trường dạy tiếng Việt cho người ngoại quốc.( 5a)
Năm 1618, linh mục De Pina cùng với Phê-rô dịch qua tiếng Việt lần đầu tiên Kinh lạy Cha và các kinh căn bản khác trong Ky-Tô giáo La Mã, ( 5b) có thể xem là khởi đầu cho việc sơ thảo quốc ngữ. Theo lời linh mục De Pina, năm 1622, ông hoàn tất hệ thống chuyển mẫu tự la-tinh thích hợp với cách phát âm và thanh điệu tiếng Việt.( 5c) Rất tiếc giai đoạn nầy chưa được nghiên cứu đầy đủ. Bản Kinh lạy Cha viết tay năm 1632 còn được nguyên bản như sau: (5d)
 | Kinh lạy Cha Nguồn: Roland Jacques, Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam
|
Trong số các học viên trường tiếng Việt của De Pina, có một người về sau nổi tiếng là Alexandre de Rhodes (1593-1660). Giáo sĩ De Rhodes đến Hội An năm 1624. Ngoài De Pina, De Rhodes còn học tiếng Việt với nhiều người địa phương, trong đó có một thiếu niên 13 tuổi ở Hội An, sau De Rhodes nhận làm con nuôi, và người nầy trở thành thầy giảng Raphael Rhodes. Năm 1645, A. de Rhodes bị trục xuất ra khỏi Đàng Trong, về Ma Cao.
 | Từ điển Việt-Bồ-La tinh Nguồn: nld.com.vn
|
Alexandre de Rhodes qua La Mã năm 1950. Năm 1651, tại La Mã, ông đứng tên tác giả, ấn hành hai bộ sách. Thứ nhất là Catechismus pro ijs, qui volunt suscipere Baptismum, in octo dies divisua (Giáo lý dành cho những ai muốn chịu Phép Rửa, chia ra tám ngày).( 6) Thứ hai là Dictionarium Annamitcum Lusitanum et Latinum (Từ điển Việt - Bồ - La).( 7)
Vì Alexandre de Rhodes gốc Pháp, nên người Pháp đã ca tụng ông như là nhà sáng chế chữ quốc ngữ, để kể công “khai hóa” của thực dân Pháp. Thật ra, người đầu tiên sáng chế chữ Quốc ngữ là linh mục Francesco de Pina, rồi đến nhiều giáo sĩ khác, trước khi De Rhodes đến Đại Việt. Trong lời “Cùng độc giả” vào đầu quyển từ điển năm 1651, A. de Rhodes cũng xác nhận:
“Tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều cha khác cùng một Hội Dòng, nhất là của cha Gaspar de Amaral và cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An nam, ông sau bằng tiếng Bồ Đào Nha, nhưng cả hai ông đều đã chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng La-tin theo lệnh của các hồng y rất đáng tôn kính...”(8)
Nói cho cùng, sự hình thành quốc ngữ không phải do công sức cá nhân của một giáo sĩ, mà là công sức tập thể của nhiều giáo sĩ thuộc nhiều nước khác nhau, nhiều thế hệ khác nhau, đã đến truyền đạo Ky-Tô tại Đại Việt, cộng với sự đóng góp lớn lao âm thầm của rất nhiều giáo sĩ và thường dân Việt.
Từ đây quốc ngữ được sử dụng càng ngày càng rộng rãi trong các giáo đường, các tu viện Ky-Tô giáo Đại Việt. Một số giáo sĩ Việt bắt đầu dùng quốc ngữ để viết thư, kể cả thư cho những giáo sĩ nước ngoài. Hai quyển từ điển khác được soạn thảo là Dictionnarium Annamitico Latinum [Từ điển Việt - La tinh] của giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc, 1741-1799), cố vấn của Nguyễn Phúc Ánh, soạn xong năm 1772, và Dictionnarium Annamitico Latinum (Nam Việt Dương Hiệp tự vị) của Jean Louis Taberd (1794-1840).
Bộ tự điển của giám mục Bá Đa Lộc còn ở dạng bản thảo, và giám mục Taberd dựa trên bản thảo nầy, để soạn bộ sách của ông và xuất bản ở Ấn Độ năm 1838 khi ông hành đạo tại nước nầy.( 9)
Khi đô đốc Rigault de Genouilly đánh chiếm thành Gia Định vào tháng 2-1859, ông thấy rằng các giáo sĩ Ky-Tô La Mã đã thành lập ở đây một trường học lấy tên là “Collège d'Adran”.(10) Tại trường nầy, học sinh được học chữ la-tinh, quốc ngữ và một ít chữ Pháp.(11)
Giai đoạn 2: Nhu câu cai trị của người Pháp
Khi chiếm Gia Định, vì nhu cầu cai trị, phó đô đốc Léonard Charner đưa ra nghị định ngày 21/09/1861, dùng trường sở Collège d'Adran, thành lập Trường thông ngôn với danh hiệu đầy đủ là “Collège Annamite-Français de Monseigneur l'Évêque d'Adran”.( 12) Trường thông ngôn chẳng những dạy người Việt học chữ Pháp để làm thông ngôn, mà còn dạy người Pháp học tiếng Việt bằng thứ chữ mới.
 | Petrus Trương Vĩnh Ký (1837- 1898) Nguồn: blog.360.yahoo.com
|
Léonard Charner cho mở ngay nhà in và phát hành báo Le Bulletin Officiel de l'Expédition de la Cochinchine (Công báo của đoàn Viễn chinh Nam Kỳ) bằng chữ Pháp, xuất bản số đầu tiên ngày 29-9-1861. Khi Louis Bonard đến thay Charner ngày 29-11-1961, Bonard cho phát hành báo Le Bulletin Des Communes có phần chữ Nho để phổ biến rộng rãi tin tức nơi người Việt và người Hoa lúc đó khá đông ở Gia Định. Bonard dự tính ấn hành một tờ báo tiếng Việt. Tuy nhiên chữ Việt theo mẫu tự la-tinh có nhiều dấu (huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã...), nên phải đặt chữ cái để sắp chữ in, đúc ở Pháp, mất hai năm mới xong (1864). Nhờ vậy ngày 15-4-1865, tờ báo tiếng Việt bằng thứ chữ mới, phiên âm theo mẫu tự la-tinh, lần đầu tiên đượïc phát hành tại Sài Gòn là Gia Định Báo.(13) Trên Gia Định Báo số 4, ngày 15-4-1867, Petrus Ký (1837-1898) đã viết một bài khuyến khích việc học thứ chữ mới, trong đó có đoạn như sau:
“...Thầy Ký dạy học có làm sách mẹo [văn phạm] dạy tiếng Lang Sa [Pháp], có làm ra chữ quốc ngữ [sic] để người ta dễ học. Những người ký lục [thư ký] giỏi cùng siêng năng sẽ lo mà học chữ quốc ngữ vì có hai mươi bốn chữ và viết đặng muôn ngàn chuyện, chữ chi mắc rẻ [khó dễ] cũng viết đặng, không phải như chữ Tàu học già đời mà còn có chữ lạ viết không ra, ở đây có Phủ Tường [Tôn Thọ Tường] đã học đặng chữ quốc ngữ, viết đặng, đọc đặng. Chữ ấy chẳng khó đâu, ra công học một đôi tháng thì thuộc hết...”(14)
Danh từ “quốc ngữ” có thể xuất hiện trước đó trong giới Ky-Tô giáo, nhưng nay mới được Petrus Ký chính thức “khai sinh” trên Gia Định Báo ngày 15/04/1867. Quốc ngữ lên báo chí, dù lúc đầu chỉ để thông tin, cũng có nghĩa là loại chữ nầy đã khá đầy đủ để diễn đạt chủ trương của nhà cầm quyền Pháp, và bắt đầu trở nên phổ thông, dầu chưa được chính thức áp dụng trong hành chánh. [Về sau, khi quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức của người Việt, danh từ “quốc ngữ” dần dần biến mất. Ngày nay người ta không gọi “quốc ngữ”, mà chỉ gọi là “Việt ngữ”].
Một chi tiết đáng chú ý là ngành in ấn theo cách lắp chữ kiểu Tây phương,( 15) giản dị, nhanh chóng, và tiện lợi hơn rất nhiều so với cách khắc bản gỗ (mộc bản) chữ Nho theo kiểu xưa của Việt Nam. In mộc bản, phải khắc từng chữ Nho chung trong toàn bài văn trên một bản gỗ. In xong, bản gỗ đó không dùng để in sách khác mà phải khắc sách khác từ đầu.
Sự phát triển ngành in đẩy mạnh việc ấn hành sách báo, từ đó làm cho quốc ngữ được truyền bá nhanh chóng vì người ta có thể học vần quốc ngữ bằng sách báo, đồng thời làm bùng nổ nền văn học quốc ngữ.
Trong khi đó, khoa thi hương (Nho học) năm 1861 (tân dậu) cho toàn thể Nam Kỳ lục tỉnh tại Gia Định bị bãi bỏ vì tình hình biến động. Gia Định mất năm 1862 nên khoa thi hương năm 1864 (giáp tý) ở Nam Kỳ được tổ chức tại Cần Thơ (huyện Vĩnh Định, tỉnh An Giang).(16) Sau đó, Pháp chiếm toàn bộ Nam Kỳ năm 1867, nên các kỳ thi Nho học ở trong Nam hoàn toàn bị bãi bỏ.
(Còn tiếp)
( 1) Dương Quảng Hàm, Việt-Nam văn-học sử-yếu, in lần thứ bảy, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn, 1960, tr. 106.
( 2) “Chữ Nôm là thứ chữ hoặc dùng nguyên hình chữ Nho, hoặc lấy hai ba chữ Nho ghép lại để viết tiếng [Việt] Nam” (Dương Quảng Hàm, sđd. tr. 100.) Hoặc “chữ Nôm được cấu tạo trên cơ sở chữ Hán Việt, tức chữ Hán đọc theo âm hán-việt”. (Đào Duy Anh, Chữ Nôm, Nguồn gốc, Cấu tạo, Diễn tiến, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, 1973, tr. 51.) Do đó, muốn học chữ Nôm thì phải biết chữ Hán tức chữ Nho, và như thế học chữ Nôm cũng khó không kém gì học chữ Nho, nếu không muốn nói là khó hơn. Có thể vì chữ Nôm khó học, khó viết, nên có hai hệ quả: Thứ nhất chữ Nôm chỉ phát triển trong giới sĩ phu, trí thức, văn thi sĩ ngày xưa mà thôi. Những người nầy vốn đã giỏi chữ Nho, nên học được chữ Nôm, chứ chữ Nôm ít phổ biến rộng rãi trong dân chúng. Có thể nói, trong lịch sử văn học, chưa có một nhân vật nào giỏi chữ Nôm mà không biết chữ Nho. Thứ hai, vì ít được sử dụng và nhất là không được chính thức sử dụng, nên lối viết chữ Nôm không ổn định. Mỗi địa phương dựa theo chữ Nho mà ghép lại thành chữ Nôm địa phương, nên chữ Nôm không thống nhất trên toàn quốc.
( 3) Dòng Tên (Society of Jesus): Do tu sĩ Ignatius Loyola (1491-1556), người Tây Ban Nha, lập năm 1539, nhắm bảo vệ tính chính thống của giáo quyền La Mã và hỗ trợ công việc truyền giáo ra các nước trên thế giới. Hiệp hội nầy được Paul III (giáo hoàng 1534-1549) thừa nhận. Vì tập tục kỵ húy của người Việt, tín đồ ngày xưa kỵ húy tên Chúa Jesus, nên chỉ gọi hiệp hội nầy là dòng Tên tức “dòng đạo mang tên Chúa Jesus”. Năm 1541, Ignatius được bầu làm trưởng dòng Tên đầu tiên. Sau khi từ trần, Ignatius được giáo hoàng Gregory XV (giáo nhiệm 1621-1623) phong thánh năm 1622. Lúc nầy, ở Đông Á, Dòng Tên đặt trụ sở chính tại Ma Cao (Trung Hoa). Từ đó, các tu sĩ Dòng Tên truyền qua Nhật Bản và lui tới Việt Nam. [Về việc người Tây phương và các giáo sĩ đạo Ky-Tô La Mã đến nước ta, xin xem chương “Người Âu Châu đến Đại Việt”, Việt sử đại cương tập 2, cùng tác giả, tt. 117-160.]
( 4) Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản yếu tân biên, quyển 3, Văn học hiện đại (1862-1945), California: Nxb Đại Nam tái bản không đề năm, tr. 67.
( 5) Roland Jacques, Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam [song ngữ Việt Pháp], tập 1, Paris: Định Hướng Tùng Thư, 2004, tt. 81-89 (5a), 223-225 (5b), 85 (5c), tr. 375 (5d). Các bản văn Kinh lạy Cha đều trích từ sách nầy.
( 6) Trong Việt-Nam văn-học sử yếu của Dương Quảng Hàm, sđd. chương thứ 18, thiên thứ 5, năm thứ nhất ban Trung học, tr. 181, có trích đăng một phần của sách nầy.dưới tựa đề Phép giảng tám ngày. Ngoài ra, sách Giáo lý dành cho những ai muốn chịu Phép Rửa, chia ra tám ngày đượïc in lại: Phép giảng tám ngày - Catechismus in octo dies divisus - Catéchisme divisé en huit jours, lời tựa của Nguyễn Khắc Xuyên, André Marillier ghi lại theo chính tả ngày nay, Henri Chappoulie dịch qua tiếng Pháp, Tp. HCM: Tủ sách Đại Kết, 1993. (Theo Roland Jacques, sđd. tr. 199, phần chú thích.)
( 7) Sách nầy được in lại: Dictionarium Annamitcum Lusitanum et Latinum, Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính dịch, Từ điển Annam - Lusitan - La Tinh (thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La), Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội, 1991.
( 8) Alexandre de Rhodes, Dictionarium Annamitcum Lusitanum et Latinum, bản in năm 1991, tr. 3.
( 9) (tìm chữ Taberd).
(10) Adran là tước hiệu tông tòa của giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc). Về giám mục nầy, xin xem Việt sử đại cương tập 2, các chương “Người Âu Châu đấn Đại Việt” và “Đất nước thống nhất”.
(11) John DeFrancis, Colonialism and Language Policy in Vietnam, New York: Moulton Publishers, 1977, tr. 75. DeFrancis theo tin của báo Courrier de Saigon ngày 10-2-1864 và DeFrancis cho biết chi tiết nầy ông lấy từ bài “Le français, le quoc-ngu, et l'enseignement public en Indochine” của E. Roucoules, trong Bulletin de la Société des études Indochinoises, số 1 năm 1890.
(12) John DeFrancis, sđd. tr. 76. Theo Alfred Schreiner, Abrégé de l'histoire d'Annam, Deuxième édition, Sai Gòn: 1906, tt. 200-201, thì Charner mở cùng một lúc hai trường: trường thông ngôn dạy tiếng Việt cho quan chức Pháp và trường Pháp mang tên Adran (Bá Đa Lộc) cho trẻ em Việt. Có thể vì việc Charner dùng trụ sở Collège d'Adran mở trường thông ngôn nên có sự lầm lẫn nầy chăng?
(13) Thư ngày 9-5-1865 của quyền thống đốc Nam Kỳ là Pierre-Gustave Roze (thống đốc De la Grandière về Pháp từ 30-3-1865 đến 26-11-1865), gởi cho bộ trưởng bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp. (Đặng Văn Nhâm, Lịch sử báo chí Việt Nam, California, Nxb. Việt Nam Văn Hiến, 1999, tr. 39.) Ông Đặng Văn Nhâm trích dịch như sau: “Số đầu tiên của tờ Gia Định Báo được in bằng chữ An Nam, theo mẫu tự La-tinh, phát hành vào ngày 15 tháng 4 vừa qua...”
(14) Phạm Thế Ngũ, sđd. tr. 67.
(15) Cách in chữ Nho ngày trước là khắc từng chữ Nho trong nguyên bài vào bản gỗ (mộc bản), dùng để in, rồi không dùng cho bài khác được. Cách in mới của giai đoạn nầy là người thợ dùng 24 chữ cái trong mẫu tự la-tinh; lắp ráp chữ cái với nhau thành chữ; ghép các chữ thành bản in. In xong, rả bản in cũ, dùng lắp lại chữ in khác.
(16) Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, bản dịch. của Nguyễn Thị Nga và Nguyễn Thị Lâm, Nxb. TpHCM, 1993, tr. 371. Alfred Schreiner, sđd. tr. 340.
[ Trở lại ]
Đọc những bài khác trong mục Lịch Sử
Trang in Gởi điện thư
|
|
|
| |
|
Đăng Ý kiến của bạn về bài này?
Ý kiến Bạn đọc (DCVOnline không chịu trách nhiệm về nội dung của những ý kiến đóng góp từ bạn đọc)
|
|
|
|
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-12 09:01:46http://www.hanoiparis.com | Nguyễn Hữu Viện
Tiếng Việt
Lưu Quang Vũ
Tiếng Việt gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.
Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.
Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.
"Ðá cheo leo trâu trèo trâu trượt"
Ði mòn đàng dứt cỏ đợi người thương
Ðây muối mặn gừng cay lòng khế xót
Ta như chim trong tiếng Việt như rừng.
Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa
óng tre ngà và mềm mại như tơ.
Tiếng tha thiết nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.
Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường.
Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất
Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già
Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dư
Đọc tiếp ý kiến này... |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
|
|
|
|
|
|
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 00:35:04 http://members.cox.net/diendantudo | Nguyễnbỉnhđồng
Kính gửi ông Trần Gia Phụng
Bài của ông rất có ích cho giới trẻ. Tuy nhiên không tránh "thiếu sót".
Tôi nêu một thí dụ: Cha Alexandre de Rhodes người DoThái, quốc tịch
Italian (Ý). Tu theo đạo Cônggíao, Dòng Tên.
Bài của ông viết: Cha Alexandre de Rhodes (cha Ðắc Lộ [tên Việtnam])
người Pháp, tôi thấy không đúng.
Vấn đề thứ hai: Ông nói người Pháp cố tình đưa cha Alexandre de Rhodes
lên làm nổi bậc là người có công sáng tạo chữ quốc ngữ vì cha Alexandre de
Rhodes là người Pháp.
Tôi đọc đoạn văn này thấy như xuất xứ từ sách của người Cộngsản Việtnam.
Các bạn trẻ đọc sách của VC xin cẩn thận. Người Cộngsản nhìn đâu cũng thấy
đấu tranh, cũng thấy tuyên truyền, cũng thấy bất công, cũng thấy hận thù...
Dù linh mục nào sáng tạo chữ quốc ngữ trước hay sau không quan trọng.
Quan trọng là sáng tạo chữ quốc ngữ để làm gì?
Người Tàu mang chữ Hán sang Việtnam để làm gì? Có phải để đồng hóa
dân tộc Việtnam không?
Kình chúc ông vui khỏe.
|
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 01:46:17 | Võ Bình
Bác Nguyểnbinhđồng ơi, hình như cha Alexandre de Rhodes là người gốc Bồ Đào Nha chăng? Bởi vì cuốn tự điển đầu tiên ông soạn là cuốn từ điển Việt-La-Bồ. Hay ông là người Pháp, nhưng ông phải soạn từ điển Việt-La-Bồ bởi vì lúc đó có nhiều linh mục Bồ đào Nha/Tây Ban Nha đi giảng đạo chăng? |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 02:21:03 | Lê Văn
Chào anh NBĐ,
Tôi luôn thấy vui khi diễn đàn có một độc giả mới, ý kiến cũng mới mẻ, dầy sinh khí.
Tôi cũng xin mạo muộn góp vài ý kiến thô thiển.
- Theo tôi biết, cha A. de Rhodes là người Pháp, sinh ở Avignon (miền Nam nước Pháp, nổi tiếng với cây cầu gãy...) - năm trên 20 sang Rome (Ý) để gia nhập giòng Tên (Jesuist) - sau này ngài thuộc Hội Truyền Giáo Paris (tôi không nhớ rõ tên gọi) - nhưng tôi chưa nghe nói cha Rhodes là người quốc tịch Ý - gốc Do thái!
Nếu có thể xin anh NBĐ cho biết nguồi tài liệu để tham khảo (thật ra cũng không quan trọng, vì người tu hành TCG thì chỉ thuộc Chúa và Giáo hội).
- Trong câu anh viết: ".. đọc đoạn văn này thấy như xuất xứ từ sách của người Cộngsản Việtnam." ... "thấy như" nghe rất mơ hồ ... (tôi "thấy như" là anh có điều gì để nói mà không muốn nói ra ... nêu có thể đuợc xin anh cứ mạnh dạn, Xin cám ơn trước..
- Tôi lấy làm lạ khi anh viết: "Dù linh mục nào sáng tạo chữ quốc ngữ trước hay sau không quan trọng".
Bài viết có đề chủ đề là "LỊCH SỬ Quốc Ngữ" mà anh lại cho rằng câu hỏi AI "sáng tạo" ra chữ quốc ngữ không quan trọng - vậy là sao?
- Anh viết tiếp: "Quan trọng là sáng tạo chữ quốc ngữ để làm gì?".
Tôi không tráng anh muốh lái sang chuyện khác, nhất là khi anh nối chuyện "quốc ngữ" với việc chữ Hán truyền sang nước ta, rồi đặt vấn đề đồng hóa...
Tóm lại, bài viết mới bắt đầu kỳ nhất, chưa nên kết luận là "không quan trọng"... Và, chuyện "Người Tàu mang chữ Hán sang Việtnam [...] để đồng hóa dân tộc Việtnam..." cũng chưa chắc. Theo một số phân tích của nh
Đọc tiếp ý kiến này... |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 02:39:33 | Lê Văn
Bổ túc: câu "Tôi không tráng anh muốn lái sang chuyện khác.." xin đọc là "Tôi không tránh được cảm tưởng là anh muốn lái sang chuyện khác...". Xin cáo lỗi. |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 20:53:46 | van Fremont
" Hâu quả là khi quốc ngữ bất đầu phỏ biến thì số ngươì mù chữ ở nưóc ta giảm xuống nhanh chóng."
Bác Văn, tôi nghĩ dùng chữ kết qủa hay hơn là hậu qủa vì số người mù chữ giảm là điều tốt. Bác hay bị tôi "bắt lỗi" vì bác là 1 trong những người mà tôi khóai đọc, mong bác không phiền. |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-15 23:16:40http://members.cox.net/diendantudo | Nguyễnbỉnhđồng
Tuesday, July 15, 2008
Dẩn “ Lịch Sử Quốc Ngữ “ : Kính hồi âm tất cả các bạn,
Lời phi lộ: NBÐ có philo riêng “ Lý đến tổngthể, không lý chitiết “.
Dođó có bạn “thácmắc”. Lỗi tại NBÐ một phần.
Tôi cũng biết “ ngậm miệng ăn tiền “ như TG TGP; nhưng không làm.
Dù sao “ Thảo luận “ thêm nhiều ánh sáng vui hơn...
Mấy hôm trước không còn thấy post trên ÐCV , NBÐ định cho “qua phà”.
Hôm nay, thấy DCV post trở lại mới gởi bài này, “hơi trể”.
Sự đời đúng sai, sai đúng là chuyện thường, cái biết của tôi nhỏ hơn hột cát!
Xin đáp câu hỏi bạn Võ Bình, bạn Lê Văn và tất cả các bạn:
1. “Không nghe Cha Rhodes là người có quốctịch Ý và gốc DoThái?”
Tổ-Tiên Alexandre de Rhodes là người DoThái. Họ tử bánđảo Iberia [Thuộc Spain và Portugal], tịnạn sang vùng Avigon [Cicily], lúc bấy giờ là của GiáoHòang Lamã [Thếkỷ 16]. Sau cáchmạng của Pháp [thếkỷ 18], Avigon thuộc Pháp. Alexandre de Rhodes sinh: 15-03-1591 [TK 16]. Dođó, khaisinh là quốctích Ý, vì Alexandre de Rhodes sinh trước khi vùng đất Avigon thuộc Pháp [cách nhau gần 2 thếkỷ]. Làm sao giấy khaisinh là quôctịch Pháp?
Ðoảnvăn trên cho thấy Alexandre de Rhodes quốctịch Ý, gốc Dothái rất thuyếphục.
Nguồn từ đâu? Thập niên 30- 40, NBÐ học tại trường Taberd Lasan với SưHuynh Domonique,
về sau SưHuynh Dominique làm giámđốc trường Taberd Lasan. Qua các SưHuynh, NBÐ có một số sách rất quí và một số kiếnthức hữu-ích. Biến cố 1943 đến 1945, Nhật đảo chánh Pháp và Việtminh nổi dậy, rồi Ðồngminh Anh-Mỹ dội bôm Saigòn, giađình NBÐ dit
Đọc tiếp ý kiến này... |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-15 23:25:03http://members.cox.net/diendantudo | Nguyễnbỉnhđồng
2. Dẩn “ Thấy như “, xuất xứ từ sách của người CSVN?
Sách của CSVN hiện nay trànlan, tuynhiên phải cẩnthận khi chọn nguồn từ các sách này.
Hơn nữa, tin hoàntòan vào sách không bằng tin vào sự nhận xét kháchquan của mình.
Thídụ trườnghợp Alexandre de Rhodes: Nếu Ông có quốctịch Pháp thì vô lý. Vì khi Ông
sinh ra, Avigon thuộc Ý [GiáoHòang Lamã]. Còn Ông gốc Dothái thì quá đúng sự thật.
3. Dẩn “ Dù linh mục nào sángtạo ra chữ quốcngữ, trước hay sau không quan trọng.
Quan trọng là sángtạo chữ quốcngữ để làm gì? “.
Chữ Hán [Tàu] sángtạo để phụcvụ con người. Sángtạo chữ quốcngữ để phụcvụ thượngđế.
Các tu sĩ hysinh cả đời, thậm chí còn chịu tử-vì-đạo vì cái gì? Có phải vì quí cha muốn mang
ánh sáng tin mừng đến mọi người, nhứt là người Việtnam? May mắn cho chúng ta là con cháu
của 117 vị thánh tử đạo, là phần ân huệ vô giá mà thượngđế ban cho dântộc Việtnam.
Thượngđế ban chữ quốcngữ cho VN là nhỏ, ban cho Dântộc Việtnam thiênđàng mới thật quí.
Thiênđàng Dântộc VN có được phải trả bằng máu của các thánh tử đạo và máu của chúng ta.
Web: www://members.cox.net/diendantudo Email: nguyenbinhdong@cox.net
|
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 05:26:11http://minhduc7.blogspot.com/ | Minh Duc
Trích: Vì Alexandre de Rhodes gốc Pháp, nên người Pháp đã ca tụng ông như là nhà sáng chế chữ quốc ngữ, để kể công “khai hóa” của thực dân Pháp. Thật ra, người đầu tiên sáng chế chữ Quốc ngữ là linh mục Francesco de Pina, rồi đến nhiều giáo sĩ khác, trước khi De Rhodes đến Đại Việt.
Tôi cho rằng chúng ta nhắc đến cha Alexandre De Rhodes khi nói đến chữ quốc ngữ là vì ông là người đã hoàn thiện chữ quốc ngữ. Nghĩa là các cha trước đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ nhưng lúc đó, chữ quốc ngữ không giống như ngày nay chúng ta dùng. Qua nhiều người truyền giáo sử dụng mỗi người đổi hoặc thêm một ít. Alexandre De Rhodes là người bổ túc và từ đó, chữ quốc ngữ khá giống ngày nay hơn. Nhìn bản trích đăng trong bài thì thấy lúc đầu, chữ quốc ngữ trông rất lạ. |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 12:23:10 | Lam Giang
Alexandre de Rhodes là ai?
Ông sinh tại Avignon, France và vào dòng Tên tại Roma năm 1612. Lên thuyền từ Lisbonne đi Ðông Dương năm 1619, đến Ma Cao năm 1623, và được sai đến truyền giáo tại Ðàng Trong năm 1624. hai năm sau, từ Ðàng Trong, cùng với bề trên của mình là linh mục người Bồ Ðào Nha Pêro Marques, ông được cửđến thành lập vùng truyền giáo Ðàng Ngoài; ông cư ngụ tại đấy từ năm 1627 cho đến lúc bị trục xuất và năm 1630. Sau mười năm sống ở Ma Cao (1630- 1640), ông lại được gửi đến Ðàng Trong và điều hành vùng truyền giáo này; ông ba đợt cư ngụ tại đây từ năm 1640 đến năm 1645 là năm ông vĩnh viễn bị trục xuất. Cuối năm 1645 ông lên tàu đi Âu châu: ông đi chuyến ấy để thảo luận về tương lai công cuộc truyền giáo Việt Nam, tại Roma (1639-1652), rồi tại Pháp (1652-1654). Sau đó, ông được sát nhập vào đoàn truyền giáo dòng Tên của Ba Tư, cư ngụ tại Ispahan cho đến lúc qua đời vào năm 1660.
(nguồn: Roland Jacques, Bồ Ðào Nha và Công Trình Sáng Chế Chữ Quốc Ngữ http://www.mevietnam.org/NgonNgu/quocngu-a.html )
|
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 18:17:33 | Võ Bình
Thưa bạn Lam Giang, ở Avignon ngưòi ta nói tiếng Provencal (hay occitan gì đó). Có lúc vùng đất Avignon thuộc về Sicily hay thuộc về Đức Giáo Hoàng. Lúc mà cha Alexander de Rhodes sinh ra, Avignon không thuộc Pháp. Vùng đất nầy ở dưới quyền điều khiển của Pháo sau khi cuộc cách mạng Pháp ở cuối thế kỷ thứ 18. Tổ tiên của ông từ bán đảo Iberia (tên gọi chung cho Portugal và Spain), có thể là gốc người Do Thái. Có thể họ chạy lánh nạn Spanish Inquisition (vua Tây Ban Nha lúc đó bắt tất cả người Do thái cải sang đạo THiên Chúa) ở cuối thế kỷ 15. |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-12 14:39:22 | Lê Văn
Đúng quá!
Avignon vốn là một vùng "tự trị", đến thế kỷ 13 mới được sát nhập vào (đât của vua) Pháp - rồi chuyển sang thành lãnh thổ của vua xứ Sicily, sau đó bán cho Giáo Triều La Mã (thế kỷ 14-15 có 7 vị Giaó Hoàng đóng đô ở Avignon) - đền sau cách mạng 1789 mới trở lại thành Pháp cho đến bây giờ...
Tên họ de Rhodes nhắc nhớ đến đảo Rhodes (nay thuộc Hy Lạp - tiên Hy Lap la Rodos) .. có thể tổ tiên của ngài là từ đó (?). Nhưng ở Âu Châu ngay xưa dân chúng đi tùm lum .. đâu có ở một nước - như người Việt ngày xưa...
|
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
|
|
|
|
|
|
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 08:25:34
| Tàng
Theo tôi, chúng ta có cái may mắn là được nhiều nhà ngôn ngự học sáng tác dùm chúng ta cái chữ viết. Ngôn ngữ nói thì cũa giòng giống Lạc Việt .. rất tinh túy và thâm xâu ... nhưng chữ để viết lên cái ngôn ngữ đó thì quả thật dân tộc chúng ta "chưa" có người có cái tài đó ... trong cái rủi thì cũng có cái may Người Tầu (phù) xâm lăng nước ta họ bóc trần cha ông chúng ta, nhưng nhờ họ mà hàng ngàn năm qua đi chúng ta cũng có được một thứ chữ đê mà diễn đạt ý tưởng là chữ Nôm, chỉ có chính kẻ sĩ trong nước tỏ ra đố kỵ ghen ghét sợ mất phần nên mới xuyên tạc "nôm na là cha mách qué" ... kể cũng hơi buồn cho thế hệ trước ..... Khi người Tây phương (Bạch quỉ??)đến nước ta, các giáo sĩ thuộc giáo hội Công Giáo Roma, đi theo để "mang tin mừng cho muôn dân" (lời đức Kito truyền cho môn đệ của ngài) thì họ cũng giúp chúng ta được hửơng cái mẫu tự "vừa dễ học, vừa tiên dùng" ... ngày nay chúng ta (hơn 80 triệu người mang tên VN) đều có thể diễn tả hết ý của mình nhờ cái mẫu tự này .... vì vậy theo tôi chúng ta phải có bổn phận nhớ ơn tất cả quí vị đó, dù cho họ có là Pháp, Bồ đào Nha hay tạy ban Nha ... hay nước nào đi nữa.. có thế mới xứng đáng là giòng giống Lạc Việt "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" ..... Tuy nhiên, tôi thấy vẫn có một số "đại trí" dè bưủ, chê bai và phê bình một cách có ác ý nhất là những người theo "Cộng Sản" ... không có mấy ông giáo sĩ đó thì chưa biết chừng chúng ta lại có loại mẫu tự viết theo kiểu "con giun bò" của Ả Rap qua nhửng cuộc tiên mạnh của mí ôn Islam lắm .... Thành thật tri ân Sử gia TGP đã có công sưu tầm và giaỉ thích cho đời ... |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 14:07:36 | Lê Văn
Bạn Tàng: "..chỉ có chính kẻ sĩ trong nước tỏ ra đố kỵ ghen ghét sợ mất phần nên mới xuyên tạc "nôm na là cha mách qué" ... kể cũng hơi buồn cho thế hệ trước..".
Tôi hoàn toàn đồng ý với cái nhìn sáng suốt của bạn. Tuy nhiên tôi nghĩ cũng không nên trách cứ các bậc tiền nhân quá. Một ngàn năm Bắc Thuộc, chính bọn Tàu cai trị nước ta không muốn dân ta học được sách vở Thánh Hiền của họ, mà chỉ muốn dân Việt làm cu-li cho chúng... nên dân ta đã không phát triển được phần trí tuệ nhiều. Đến khi dành lại được độc lập, hơn 100 năm trước, vua quan ta đã khuyến khích học tập văn học của Tàu thì cũng là đường hướng đúng...
Cái dở là đã nhiều - không phải tất cả - người được đi học (ta goị là "kẻ sĩ") lại tôn sùng quá đáng nền văn học của Tàu, cho rằng cái gì có cũng hay, ta cái gì cũng dở (dú là dở hơn thật vì đã trải qua 1000 năm làm tôi mọi cho Tàu thì làm sao bằng họ đuợc?!) nên vẫn không khá! Cho nên tách là trách những kẻ được may mắn đi học đến nới đến chốn nhưng lại không dùng hiều biết để khai phá cái vốn văn hiến của dân tộc mình. Chẳng qua vì chỉ vì tính ích kỷ, ăn nên làm ra thì chỉ muốn cho cá nhân và gia đình được hưởng (một người làm quan cả họ đuợc nhờ)...
Tuy nhiên đó cũng chỉ là thiểu số... chứ thật ra tuyện đại đa số "kẻ sĩ" của ta đều biết yêu thưong dân tộc giống nòi, các vị dù làm quan (báo đền ơn mưa móc ... của nhà vua - theo quan điềm Khổng Giáo!) thường chăm chăm lộn xốn là cáo quan về quê dạy học! Tên tuổi những vị đại thần nghĩ đến dân tộc nhiều vô kể ... từ Chu Văn An, Trướng Hán Siêu, Mạ
Đọc tiếp ý kiến này... |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
|
|
|
|
|
|
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 13:25:26
| Nguyễn Quân
Nguyên cả châu Á, chỉ có Việt Nam là lấy mẫu tự la tinh làm chữ viết cho mình (tôi có lầm ở điểm này không nhỉ ?). Một mặt, nguời Việt có đuợc dễ dàng trong việc học các ngoại ngữ tây phương qua cách viết, mặt khác, hình như qua đó chúng ta đã đánh mất một phần "identity" của mình, cái hồn á châu trong chữ viết???.
Có đuợc một cái "tool" để tiếp cận đễ dàng với những nền văn hóa khá khác biệt hơn, nhưng đánh mất một phần nào đặc trưng cũng khiến chúng ta khá dễ dãi mà ....thay đổi (gọi là thích ứng).
|
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 14:23:44 | Nguyễn Khánh Đăng
Ở Á Châu, ngoài Việt Nam, có Nam Dương, Mã, Phi, đều dùng mẫu tự latin làm chữ viết của họ.
Tôi cũng đồng ý với bác Quân là bỏ chữ Nho và bỏ luôn chữ Nôm là chuyện quá uổng. Tôi không dùng "chữ Hán" vì ông bà mình đã Việt-nam-hoá chữ Nho một nửa, nghĩa là viết giống người Tàu, nhưng đọc theo âm Việt, người Việt học chữ Nho đọc sách Tàu thì được nhưng không nói tiếng Tàu và không hiểu tiếng người Tàu nói. Sử sách, các tấm bia, gia phả, sách riêng trong giòng họ vvv của người Việt đều sử dụng chữ Nho. Ngày nay không phải tất cả sách vở của người Việt viết bằng chữ Nho đều đã được dịch ra chữ Quốc Ngữ. Đó là chưa kể nhiều sách vở cũ của Tàu viết về lịch sử và văn hoá người Việt được viết bằng chữ Nho mà bây giờ, chỉ một thiểu số rất ít mới có khả năng tiếp cận. Trước năm 1975, cụ Kim Định có nêu lên vấn đề này và đề nghị phải dạy chữ Nho từ tiểu học thì bị mọi người cười là gàn, và chính cụ cũng không hăng hái về đề nghị này. Ngày nay đề nghị dạy chữ Nho cho học sinh tiểu học là chuyện không tưởng, nhất là bọn bán nước Đảng CSVN thì lại càng không đủ tư cách để đề xướng chuyện này
Đành rằng học chữ Quốc Ngữ dễ và nhanh hơn chữ Nho, nhưng tôi không thấy học trò Tàu, Nhật, hay Đại Hàn thua kém Âu Mỹ chỉ vì họ dùng chữ viết cũ của họ. Và Việt Nam, dù đã dùng mẫu tự Latinh làm chữ viết, rõ ràng cũng không hay hơn gì người Tàu, Nhật, và Đại Hàn về chuyện văn minh tiến bộ. Có lần đọc bài viết (đã cũ, khoảng 30 năm về trước) của một học giả (hình như giáo sư Trần Kinh Hoà) có nói rằng bây
Đọc tiếp ý kiến này... |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 14:49:56 | Lê Văn
1.
Đúng là lầm... Nam Dương, Phi .. đều dùng toàn mẫu tự La Tinh... Thái Lan, Ấn Độ.. dùng cả hai ... Chưa kể nhiều nước (Ấn, Singapore, Phi, Tích Lan... )...phải dùng tiếng Anh làm "chuyển ngữ"... vì không có tiếng quốc ngữ...
Nhưng điều cần biết chính là: người Tau, người Nhật đều muốn đổi sang La Tinh mà không làm nổi ... lý do không phải là quá muộn mà là lý do kỹ thuật ...
Thế mới biết công của các ông cố đạo ngày xưa không phải là nhỏ (dù các ngài làm chuyện đó vì lý do gì). Dùng nó để làm lợi cho mình đến mức nào là ở chính mình ... chả lẽ người ta nấu cơm cho mình ắn mà còn bắt họ đút luôn vô miệng?
2.
Chiện identity không phải kkhông đúng ... nhưng chưa chắc là ở... chữ viết... tui thấy chính những người Việt ít học, cac bácn nông phu, dân đánh cá lại mang nhiều hồn dân tộc (ai có công đánh Tầu, đánh Tây.. chống Mỹ cứu nước ... uýnh cộng sản xâm lược ... nếu không phải những người bình dân it1 học ... chữ ta con loạng quạng đừng nói đến chữ Tàu!)
Mà có cái gọi là hồn Á Châu không vậy?
3.
Đùng lo thức ứng quá nhanh.. mà nen lo thích ứng không kịp! Có phải vấn đề của cha mẹ ở hải ngoại là không theo kịp lối suy nghĩ (bình thường) của lớp trẻ con cháu?
Thân mến
|
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
|
|
|
|
|
|
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 16:49:42
| Người trong nước
Cảm ơn bài viết của tác giả Trần Gia Phụng, cùng ý kiến của mọi người, nhất là bạn Tâm Việt, kiếm đâu ra nhiều links thế. |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ] |
|
|
|
|
|
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 22:48:16
| Võ Bình
Chử quốc ngữ là một trong những cản trở của công cuộc hán hóa Việt Nam của Trung cộng.
Chử nho khó học và nếu nó còn tồn tại trong xã hội nghèo khó VN thì cái cảnh thầy đồ thầy ký làm khó dể và miệt thị dân nghèo mù chử sẽ đầy dẩy ở VN. |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ] |
|
|
|
|
|
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-11 23:10:30
| Tâm Việt
Đi thi
Tấp tểnh người đi, tớ cũng đi,
Cũng lều, cũng chõng, cũng đi thi.
Tiễn chân cô mất hai đồng chẵn,
Sờ bụng thầy không một chữ gì !
Lộc nước còn mong thêm giải ngạch ;
Phúc nhà may được sạch trường quy.
Bốn kỳ trọn vẹn thêm kỳ nữa,
Á, ớ, u, ơ, ngọn bút chì.
Tú Xương đi thi phải dùng quốc ngữ.
|
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ] |
|
|
|
|
|
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-16 04:01:14 | Võ Bình
Cám ơn tài liệu của bác Nguyễnbỉnhđồng.
Vâng, người CS thích ghép đạo Công Giáo vào việc mất nước VN vào tay Pháp. Cho nên không lạ gì có một số sách từ trong nước cho cha Alexander de Rhodes là ngưới Pháp.
Trong thời chưa có máy ghi âm, chử quốc ngữ lúc đó là cách tốt nhất để ghi lại tiếng nói của dân tộc ta cách đây mấy trăm năm.
Cũng nhờ chử quốc ngữ, nó giúp dân VN thống nhất lại cách phát âm. Cháu là dân gốc miền nam, nhưng bây giờ lại nói hơi có giọng bằc chút chút, chắc có lẽ theo thói quen nói tiếng Anh, nói chữ nào thì phải ra chử đó. Thí dụ số 9 phải đọc là "chín" thay vì "chính", "cùng"/"cùn". "bủn","bũng".
Kính chào bác. |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
Re: Lịch sử quốc ngữ (I) 2008-07-16 21:30:24http://members.cox.net/diendantudo | Nguyễnbỉnhđồng
Wednesday, July 16, 2008
“ Tái ngộ hề, thiên ngôn thiểu hề...”
Kính gởi Võ Bình,
Chúngta lại tái ngộ.
“Ngôn có chính [chánh] thì ý mới thông”. NBÐ đã researched 6 bộ sách [ Trên nữa thế kỷ ]. 1. NghệThuật Cờ Tướng [ 2 quyển ] 2. Sáng Tác Thơ [dạy làm thơ từ A tới Z, 2 quyển ]. 3. Văn Phạm Việt Nam [dạy viết văn, đủ thể loại, 6 quyển ]. 4. Việt Sử Cận Kim Yếu Lược [ Chưa xuất bản ]. 5. Triết Lý Siêu Lý [ Triết lý của NBÐ, chưa xuất bản ]. 6. Tập Thơ Dạ Từ [Thơ được sángtác và đọc trong đêm đen của quốc nạn].
NBÐ là bạn của vua cờ tướng Việtnam, Phạm Tấn Hòa [vô địch nhiều năm trước 1975]. Nhờ Hòa giới thiệu hay sao không biết, mà sách này bán hết [Trong cờ tướng có nhiều nghệthuật]. Soạngỉa mượn nghệtthuật cờ tướng để nói về Triết Lý Siêu Lý.
Sáng Tác Thơ và Văn Phạm Việtnam mới xuấtbản quyển 1. Tập Thơ Dạ Từ - Việt Sử Cận Kim - Triết Lý Siêu Lý chưa xuất bản.
“Nợ xã hội, vay trả trả vay...” kẻ thư sinh này viết 6 bộ sách để trả nợ xã hội. Coi bộ không toại nguyện. Vừa qua kẻ thư sinh này phải giải phẩu tim. Do đó mới viết lên đôi dòng xem có mạnh-thường-quân nào muốn tiếp tay để bảo tồn văn hóa dântộc VN? Tất cả 6 bộ đã soạn xong và layout
ra rồi, chỉ còn đem in. Các sách đã xuất bản có bán ngoài các nhà sách như Tự Lực, Tú Quỳnh, v.v...
Thú thật: Sách Văn Phạm Việt Nam không bán chạy bằng sách Phong Thủy hay Khiêu Dâm. Khi thấy Võ Bình nói: 9 nói hay viết “chín”, không nên viết “chính”. NBÐ để ý đặctính về quanđi
Đọc tiếp ý kiến này... |
[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]
|
|
31
|
|