Columns
   Huỳnh Việt Lang
 Nguyễn Văn Lục
 Sổ Tay Thường Dân TNT
 Thu Toa Soan
 
dcvblogs
 




 
Login
 
Biệt danh

Mật mã

Bạn chưa đăng ký độc giả? Bạn có thể đăng ký ở đây.
 
Biếm họa
   
Ai đang online?
 
Hiện đang có 377 bạn đọc trên DCVOnline
Log On
Đọc DCVOnline trên Yahoo!
 
Thư mục DCVOnline
   Trang nhất
 Ban biên tập
 Góc bạn đọc
 Góp ý tòa soạn
 Gởi bài
 Lưu trữ
 Tin RSS
 
    Lịch Sử
11-07-2008 
  
  

Lịch sử quốc ngữ (I)

Dem Giua Ban Ngay

Trần Gia Phụng


Quốc ngữ là chữ viết chung của dân chúng cả nước. Từ thời Ngô Quyền lập quốc (939), các triều đại cầm quyền đã mượn chữ Nho (chữ Hán) để sử dụng trong hành chánh, học thuật. Dầu vậy, người Việt vẫn nói tiếng Việt, không công nhận chữ Nho là quốc ngữ, và tìm cách sáng tạo ra quốc ngữ cho riêng mình.

Văn Miếu Hà Nội - Chu Văn An (1292-1370)
Nguồn: chimviet.free.fr
Đầu tiên, người Việt dựa trên chữ Nho để chế ra chữ Nôm. Chữ Nôm được ghi nhận chính thức xuất hiện vào thế kỷ 13, khi Nguyễn Thuyên, lúc đó đang là hình bộ thượng thư dưới triều Trần Nhân Tông (1279-1293), làm bài văn “Tế cá sấu” bằng chữ Nôm. Vào thời nầy, chữ Nôm được xem là quốc ngữ bên cạnh chữ Nho, nên tập thơ chữ Nôm của Chu Văn An (? - 1370) được ông gọi là Quốc ngữ thi tập (Tập thơ quốc ngữ).(1) Tuy nhiên, chữ Nôm cấu tạo trên căn bản chữ Nho, nên muốn học chữ Nôm thì phải biết chữ Nho tức chữ Hán.(2) Vì vậy chữ Nôm khó học, không phổ thông trong dân chúng, và ít được sử dụng.

Từ thế kỷ 17 trở đi, một thứ chữ mới xuất hiện. Nhờ giản dị, dễ sử dụng, sau ba trăm năm thử nghiệm, loại chữ nầy càng ngày càng trở nên phổ thông và biến thành quốc ngữ, mà ngày nay người Việt đang sử dụng.


I. Vì sao xuất hiện quốc ngữ?

Từ thế kỷ 16, các giáo sĩ Ky-Tô Tây phương bắt đầu đến truyền giáo tại nước ta. Lúc đầu, các giáo sĩ thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, theo các dòng tu khác nhau, thuộc nhiều giáo phận khác nhau, trong đó đông nhất là các giáo sĩ Dòng Tên.(3)

Khi đến Đại Việt bằng tàu thuyền, các giáo sĩ đặt chân đầu tiên lên miền duyên hải. Muốn giảng đạo, các ông không đến rồi đi liền, mà ở lại sống chung dài hạn lẫn lộn với dân chúng. Muốn thế đầu tiên các giáo sĩ phải học nói tiếng Việt để giao tiếp hằng ngày. Tập nói để hiểu được người Việt và làm sao nói cho người Việt hiểu được mình, các giáo sĩ mới có thể bắt đầu truyền đạo.

Khi truyền đạo, các giáo sĩ không phải chỉ nói, mà còn dùng kinh sách để giảng giải. Ngoài kinh sách bằng chữ la-tinh, các giáo sĩ có thể sẵn có Thánh kinh bằng chữ Nho (chữ Hán) do các cơ sở ở Ma Cao cung cấp. (Ma Cao -Trung Hoa - là nơi các dòng tu Ky-Tô giáo La Mã đặt trụ sở để truyền đạo vào Trung Hoa và qua Nhật Bản.) Tuy nhiên ít người trong dân chúng biết chữ Nho, nhất là ở các vùng nông thôn vốn nghèo khổ, ít học.

Vì vậy, để truyền đạo cho người Việt, các giáo sĩ phải viết kinh sách bằng tiếng Việt. Học nói thì không cần chữ nghĩa, nhưng kinh sách thì phải có chữ nghĩa. Không thể dùng chữ Nôm để viết tiếng Việt, các giáo sĩ ký âm thẳng tiếng Việt bằng mẫu tự la-tinh, rồi mới dùng thứ chữ mới ký âm nầy để viết sách giáo lý bằng tiếng Việt. Mẫu tự la-tinh chỉ gồm 24 chữ cái, có thể dùng để lắp ghép thành các từ ngữ trong tiếng Việt, nên thứ chữ mới nầy giản dị, dễ học, dễ viết, dễ sử dụng, dễ truyền bá.

Từ đó, các giáo sĩ và những người Việt tân tòng hoặc học đạo với các giáo sĩ, đã hợp tác và tạo nên một thứ chữ mới vào thời đó, mà học giả Petrus Trương Vĩnh Ký gọi là “quốc ngữ” trong một bài viết trên Gia Định Báo ngày15/04/1867.(4)

II. Các giai đoạn hình thành quốc ngữ

Giai đoạn 1: Nhu cầu truyền đạo của các giáo sĩ

Các giáo sĩ Ky-Tô La Mã đến Đại Việt để truyền đạo. Vì nhu cầu truyền đạo, các ông sáng chế chữ quốc ngữ chỉ để làm phương tiện phổ biến rộng rãi giáo lý đạo Ky-Tô, chứ không nhắm mục đích tạo nên một thứ chữ mới cho dân Việt sử dụng.

Người có công đầu trong việc sáng chế quốc ngữ là linh mục Francesco de Pina (1585-1625), một giáo sĩ Dòng Tên, người Bồ Đào Nha (Portugese), đến Đàng Trong năm 1617, từ trần vì đắm thuyền ở vịnh Đà Nẵng năm 1625. Ông là người đầu tiên nói thạo và giảng đạo bằng tiếng Việt. Hợp tác với nhiều người, và đặc biệt, nhờ sự giúp đỡ của một thanh niên Việt có tên đạo là Phê-rô, De Pina đã khởi thảo la-tinh hóa tiếng Việt, soạn thảo một bản văn phạm quốc ngữ, dịch và soạn sách giáo lý đạo Ky-Tô bằng tiếng Việt, mở trường dạy tiếng Việt cho người ngoại quốc.(5a)

Năm 1618, linh mục De Pina cùng với Phê-rô dịch qua tiếng Việt lần đầu tiên Kinh lạy Cha và các kinh căn bản khác trong Ky-Tô giáo La Mã, (5b) có thể xem là khởi đầu cho việc sơ thảo quốc ngữ. Theo lời linh mục De Pina, năm 1622, ông hoàn tất hệ thống chuyển mẫu tự la-tinh thích hợp với cách phát âm và thanh điệu tiếng Việt.(5c) Rất tiếc giai đoạn nầy chưa được nghiên cứu đầy đủ. Bản Kinh lạy Cha viết tay năm 1632 còn được nguyên bản như sau: (5d)

Kinh lạy Cha
Nguồn: Roland Jacques, Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam


Trong số các học viên trường tiếng Việt của De Pina, có một người về sau nổi tiếng là Alexandre de Rhodes (1593-1660). Giáo sĩ De Rhodes đến Hội An năm 1624. Ngoài De Pina, De Rhodes còn học tiếng Việt với nhiều người địa phương, trong đó có một thiếu niên 13 tuổi ở Hội An, sau De Rhodes nhận làm con nuôi, và người nầy trở thành thầy giảng Raphael Rhodes. Năm 1645, A. de Rhodes bị trục xuất ra khỏi Đàng Trong, về Ma Cao.

Từ điển Việt-Bồ-La tinh
Nguồn: nld.com.vn
Alexandre de Rhodes qua La Mã năm 1950. Năm 1651, tại La Mã, ông đứng tên tác giả, ấn hành hai bộ sách. Thứ nhất là Catechismus pro ijs, qui volunt suscipere Baptismum, in octo dies divisua (Giáo lý dành cho những ai muốn chịu Phép Rửa, chia ra tám ngày).(6) Thứ hai là Dictionarium Annamitcum Lusitanum et Latinum (Từ điển Việt - Bồ - La).(7)

Vì Alexandre de Rhodes gốc Pháp, nên người Pháp đã ca tụng ông như là nhà sáng chế chữ quốc ngữ, để kể công “khai hóa” của thực dân Pháp. Thật ra, người đầu tiên sáng chế chữ Quốc ngữ là linh mục Francesco de Pina, rồi đến nhiều giáo sĩ khác, trước khi De Rhodes đến Đại Việt. Trong lời “Cùng độc giả” vào đầu quyển từ điển năm 1651, A. de Rhodes cũng xác nhận:


“Tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều cha khác cùng một Hội Dòng, nhất là của cha Gaspar de Amaral và cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An nam, ông sau bằng tiếng Bồ Đào Nha, nhưng cả hai ông đều đã chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng La-tin theo lệnh của các hồng y rất đáng tôn kính...”(8)


Nói cho cùng, sự hình thành quốc ngữ không phải do công sức cá nhân của một giáo sĩ, mà là công sức tập thể của nhiều giáo sĩ thuộc nhiều nước khác nhau, nhiều thế hệ khác nhau, đã đến truyền đạo Ky-Tô tại Đại Việt, cộng với sự đóng góp lớn lao âm thầm của rất nhiều giáo sĩ và thường dân Việt.

Từ đây quốc ngữ được sử dụng càng ngày càng rộng rãi trong các giáo đường, các tu viện Ky-Tô giáo Đại Việt. Một số giáo sĩ Việt bắt đầu dùng quốc ngữ để viết thư, kể cả thư cho những giáo sĩ nước ngoài. Hai quyển từ điển khác được soạn thảo là Dictionnarium Annamitico Latinum [Từ điển Việt - La tinh] của giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc, 1741-1799), cố vấn của Nguyễn Phúc Ánh, soạn xong năm 1772, và Dictionnarium Annamitico Latinum (Nam Việt Dương Hiệp tự vị) của Jean Louis Taberd (1794-1840).

Bộ tự điển của giám mục Bá Đa Lộc còn ở dạng bản thảo, và giám mục Taberd dựa trên bản thảo nầy, để soạn bộ sách của ông và xuất bản ở Ấn Độ năm 1838 khi ông hành đạo tại nước nầy.(9)

Khi đô đốc Rigault de Genouilly đánh chiếm thành Gia Định vào tháng 2-1859, ông thấy rằng các giáo sĩ Ky-Tô La Mã đã thành lập ở đây một trường học lấy tên là “Collège d'Adran”.(10) Tại trường nầy, học sinh được học chữ la-tinh, quốc ngữ và một ít chữ Pháp.(11)


Giai đoạn 2: Nhu câu cai trị của người Pháp

Khi chiếm Gia Định, vì nhu cầu cai trị, phó đô đốc Léonard Charner đưa ra nghị định ngày 21/09/1861, dùng trường sở Collège d'Adran, thành lập Trường thông ngôn với danh hiệu đầy đủ là “Collège Annamite-Français de Monseigneur l'Évêque d'Adran”.(12) Trường thông ngôn chẳng những dạy người Việt học chữ Pháp để làm thông ngôn, mà còn dạy người Pháp học tiếng Việt bằng thứ chữ mới.

Petrus Trương Vĩnh Ký (1837- 1898)
Nguồn: blog.360.yahoo.com
Léonard Charner cho mở ngay nhà in và phát hành báo Le Bulletin Officiel de l'Expédition de la Cochinchine (Công báo của đoàn Viễn chinh Nam Kỳ) bằng chữ Pháp, xuất bản số đầu tiên ngày 29-9-1861. Khi Louis Bonard đến thay Charner ngày 29-11-1961, Bonard cho phát hành báo Le Bulletin Des Communes có phần chữ Nho để phổ biến rộng rãi tin tức nơi người Việt và người Hoa lúc đó khá đông ở Gia Định. Bonard dự tính ấn hành một tờ báo tiếng Việt. Tuy nhiên chữ Việt theo mẫu tự la-tinh có nhiều dấu (huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã...), nên phải đặt chữ cái để sắp chữ in, đúc ở Pháp, mất hai năm mới xong (1864). Nhờ vậy ngày 15-4-1865, tờ báo tiếng Việt bằng thứ chữ mới, phiên âm theo mẫu tự la-tinh, lần đầu tiên đượïc phát hành tại Sài Gòn là Gia Định Báo.(13) Trên Gia Định Báo số 4, ngày 15-4-1867, Petrus Ký (1837-1898) đã viết một bài khuyến khích việc học thứ chữ mới, trong đó có đoạn như sau:

“...Thầy Ký dạy học có làm sách mẹo [văn phạm] dạy tiếng Lang Sa [Pháp], có làm ra chữ quốc ngữ [sic] để người ta dễ học. Những người ký lục [thư ký] giỏi cùng siêng năng sẽ lo mà học chữ quốc ngữ vì có hai mươi bốn chữ và viết đặng muôn ngàn chuyện, chữ chi mắc rẻ [khó dễ] cũng viết đặng, không phải như chữ Tàu học già đời mà còn có chữ lạ viết không ra, ở đây có Phủ Tường [Tôn Thọ Tường] đã học đặng chữ quốc ngữ, viết đặng, đọc đặng. Chữ ấy chẳng khó đâu, ra công học một đôi tháng thì thuộc hết...”(14)


Danh từ “quốc ngữ” có thể xuất hiện trước đó trong giới Ky-Tô giáo, nhưng nay mới được Petrus Ký chính thức “khai sinh” trên Gia Định Báo ngày 15/04/1867. Quốc ngữ lên báo chí, dù lúc đầu chỉ để thông tin, cũng có nghĩa là loại chữ nầy đã khá đầy đủ để diễn đạt chủ trương của nhà cầm quyền Pháp, và bắt đầu trở nên phổ thông, dầu chưa được chính thức áp dụng trong hành chánh. [Về sau, khi quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức của người Việt, danh từ “quốc ngữ” dần dần biến mất. Ngày nay người ta không gọi “quốc ngữ”, mà chỉ gọi là “Việt ngữ”].

Một chi tiết đáng chú ý là ngành in ấn theo cách lắp chữ kiểu Tây phương,(15) giản dị, nhanh chóng, và tiện lợi hơn rất nhiều so với cách khắc bản gỗ (mộc bản) chữ Nho theo kiểu xưa của Việt Nam. In mộc bản, phải khắc từng chữ Nho chung trong toàn bài văn trên một bản gỗ. In xong, bản gỗ đó không dùng để in sách khác mà phải khắc sách khác từ đầu.

Sự phát triển ngành in đẩy mạnh việc ấn hành sách báo, từ đó làm cho quốc ngữ được truyền bá nhanh chóng vì người ta có thể học vần quốc ngữ bằng sách báo, đồng thời làm bùng nổ nền văn học quốc ngữ.

Trong khi đó, khoa thi hương (Nho học) năm 1861 (tân dậu) cho toàn thể Nam Kỳ lục tỉnh tại Gia Định bị bãi bỏ vì tình hình biến động. Gia Định mất năm 1862 nên khoa thi hương năm 1864 (giáp tý) ở Nam Kỳ được tổ chức tại Cần Thơ (huyện Vĩnh Định, tỉnh An Giang).(16) Sau đó, Pháp chiếm toàn bộ Nam Kỳ năm 1867, nên các kỳ thi Nho học ở trong Nam hoàn toàn bị bãi bỏ.


(Còn tiếp)



(1) Dương Quảng Hàm, Việt-Nam văn-học sử-yếu, in lần thứ bảy, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn, 1960, tr. 106.
(2) “Chữ Nôm là thứ chữ hoặc dùng nguyên hình chữ Nho, hoặc lấy hai ba chữ Nho ghép lại để viết tiếng [Việt] Nam” (Dương Quảng Hàm, sđd. tr. 100.) Hoặc “chữ Nôm được cấu tạo trên cơ sở chữ Hán Việt, tức chữ Hán đọc theo âm hán-việt”. (Đào Duy Anh, Chữ Nôm, Nguồn gốc, Cấu tạo, Diễn tiến, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, 1973, tr. 51.) Do đó, muốn học chữ Nôm thì phải biết chữ Hán tức chữ Nho, và như thế học chữ Nôm cũng khó không kém gì học chữ Nho, nếu không muốn nói là khó hơn. Có thể vì chữ Nôm khó học, khó viết, nên có hai hệ quả: Thứ nhất chữ Nôm chỉ phát triển trong giới sĩ phu, trí thức, văn thi sĩ ngày xưa mà thôi. Những người nầy vốn đã giỏi chữ Nho, nên học được chữ Nôm, chứ chữ Nôm ít phổ biến rộng rãi trong dân chúng. Có thể nói, trong lịch sử văn học, chưa có một nhân vật nào giỏi chữ Nôm mà không biết chữ Nho. Thứ hai, vì ít được sử dụng và nhất là không được chính thức sử dụng, nên lối viết chữ Nôm không ổn định. Mỗi địa phương dựa theo chữ Nho mà ghép lại thành chữ Nôm địa phương, nên chữ Nôm không thống nhất trên toàn quốc.
(3) Dòng Tên (Society of Jesus): Do tu sĩ Ignatius Loyola (1491-1556), người Tây Ban Nha, lập năm 1539, nhắm bảo vệ tính chính thống của giáo quyền La Mã và hỗ trợ công việc truyền giáo ra các nước trên thế giới. Hiệp hội nầy được Paul III (giáo hoàng 1534-1549) thừa nhận. Vì tập tục kỵ húy của người Việt, tín đồ ngày xưa kỵ húy tên Chúa Jesus, nên chỉ gọi hiệp hội nầy là dòng Tên tức “dòng đạo mang tên Chúa Jesus”. Năm 1541, Ignatius được bầu làm trưởng dòng Tên đầu tiên. Sau khi từ trần, Ignatius được giáo hoàng Gregory XV (giáo nhiệm 1621-1623) phong thánh năm 1622. Lúc nầy, ở Đông Á, Dòng Tên đặt trụ sở chính tại Ma Cao (Trung Hoa). Từ đó, các tu sĩ Dòng Tên truyền qua Nhật Bản và lui tới Việt Nam. [Về việc người Tây phương và các giáo sĩ đạo Ky-Tô La Mã đến nước ta, xin xem chương “Người Âu Châu đến Đại Việt”, Việt sử đại cương tập 2, cùng tác giả, tt. 117-160.]
(4) Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản yếu tân biên, quyển 3, Văn học hiện đại (1862-1945), California: Nxb Đại Nam tái bản không đề năm, tr. 67.
(5) Roland Jacques, Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam [song ngữ Việt Pháp], tập 1, Paris: Định Hướng Tùng Thư, 2004, tt. 81-89 (5a), 223-225 (5b), 85 (5c), tr. 375 (5d). Các bản văn Kinh lạy Cha đều trích từ sách nầy.
(6) Trong Việt-Nam văn-học sử yếu của Dương Quảng Hàm, sđd. chương thứ 18, thiên thứ 5, năm thứ nhất ban Trung học, tr. 181, có trích đăng một phần của sách nầy.dưới tựa đề Phép giảng tám ngày. Ngoài ra, sách Giáo lý dành cho những ai muốn chịu Phép Rửa, chia ra tám ngày đượïc in lại: Phép giảng tám ngày - Catechismus in octo dies divisus - Catéchisme divisé en huit jours, lời tựa của Nguyễn Khắc Xuyên, André Marillier ghi lại theo chính tả ngày nay, Henri Chappoulie dịch qua tiếng Pháp, Tp. HCM: Tủ sách Đại Kết, 1993. (Theo Roland Jacques, sđd. tr. 199, phần chú thích.)
(7) Sách nầy được in lại: Dictionarium Annamitcum Lusitanum et Latinum, Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính dịch, Từ điển Annam - Lusitan - La Tinh (thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La), Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội, 1991.
(8) Alexandre de Rhodes, Dictionarium Annamitcum Lusitanum et Latinum, bản in năm 1991, tr. 3.
(9) (tìm chữ Taberd).
(10) Adran là tước hiệu tông tòa của giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc). Về giám mục nầy, xin xem Việt sử đại cương tập 2, các chương “Người Âu Châu đấn Đại Việt” và “Đất nước thống nhất”.
(11) John DeFrancis, Colonialism and Language Policy in Vietnam, New York: Moulton Publishers, 1977, tr. 75. DeFrancis theo tin của báo Courrier de Saigon ngày 10-2-1864 và DeFrancis cho biết chi tiết nầy ông lấy từ bài “Le français, le quoc-ngu, et l'enseignement public en Indochine” của E. Roucoules, trong Bulletin de la Société des études Indochinoises, số 1 năm 1890.
(12) John DeFrancis, sđd. tr. 76. Theo Alfred Schreiner, Abrégé de l'histoire d'Annam, Deuxième édition, Sai Gòn: 1906, tt. 200-201, thì Charner mở cùng một lúc hai trường: trường thông ngôn dạy tiếng Việt cho quan chức Pháp và trường Pháp mang tên Adran (Bá Đa Lộc) cho trẻ em Việt. Có thể vì việc Charner dùng trụ sở Collège d'Adran mở trường thông ngôn nên có sự lầm lẫn nầy chăng?
(13) Thư ngày 9-5-1865 của quyền thống đốc Nam Kỳ là Pierre-Gustave Roze (thống đốc De la Grandière về Pháp từ 30-3-1865 đến 26-11-1865), gởi cho bộ trưởng bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp. (Đặng Văn Nhâm, Lịch sử báo chí Việt Nam, California, Nxb. Việt Nam Văn Hiến, 1999, tr. 39.) Ông Đặng Văn Nhâm trích dịch như sau: “Số đầu tiên của tờ Gia Định Báo được in bằng chữ An Nam, theo mẫu tự La-tinh, phát hành vào ngày 15 tháng 4 vừa qua...”
(14) Phạm Thế Ngũ, sđd. tr. 67.
(15) Cách in chữ Nho ngày trước là khắc từng chữ Nho trong nguyên bài vào bản gỗ (mộc bản), dùng để in, rồi không dùng cho bài khác được. Cách in mới của giai đoạn nầy là người thợ dùng 24 chữ cái trong mẫu tự la-tinh; lắp ráp chữ cái với nhau thành chữ; ghép các chữ thành bản in. In xong, rả bản in cũ, dùng lắp lại chữ in khác.
(16) Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, bản dịch. của Nguyễn Thị Nga và Nguyễn Thị Lâm, Nxb. TpHCM, 1993, tr. 371. Alfred Schreiner, sđd. tr. 340.



[ Trở lại ]

 Đọc những bài khác trong mục Lịch Sử  Trang in Trang in  Gởi điện thư Gởi điện thư

  
 
    Đăng Ý kiến của bạn về bài này?

   Ý kiến Bạn đọc
   (DCVOnline không chịu trách nhiệm về nội dung của những ý kiến đóng góp từ bạn đọc)

Re: Lịch sử quốc ngữ (I)
2008-07-10 23:31:51
Tâm Việt


Lịch sử chữ Nôm qua kinh sách Phật giáo. Theo tác giả, từ Hán tự qua các vị sư sãi Trung Hoa định cư mà Việt Hóa ra chữ Nôm

Chữ Nôm và Phật giáo Việt Nam
Chữ Nôm và Phật giáo Việt Nam


[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]



Re: Lịch sử quốc ngữ (I)
2008-07-10 23:46:11
Tâm Việt


Công lao Việt Hóa chữ Quốc ngữ trên sách vở, có hai vị nhân sĩ Miền Nam: Huỳnh Tịnh Của và Trương Vĩnh Ký.

Huỳnh Tịnh Của

Trương Vĩnh Ký

VietNam by Spencer C. Tucker


[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]



Re: Lịch sử quốc ngữ (I)
2008-07-11 00:35:04
http://members.cox.net/diendantudo
Nguyễnbỉnhđồng


Kính gửi ông Trần Gia Phụng

Bài của ông rất có ích cho giới trẻ. Tuy nhiên không tránh "thiếu sót".

Tôi nêu một thí dụ: Cha Alexandre de Rhodes người DoThái, quốc tịch
Italian (Ý). Tu theo đạo Cônggíao, Dòng Tên.

Bài của ông viết: Cha Alexandre de Rhodes (cha Ðắc Lộ [tên Việtnam])
người Pháp, tôi thấy không đúng.

Vấn đề thứ hai: Ông nói người Pháp cố tình đưa cha Alexandre de Rhodes
lên làm nổi bậc là người có công sáng tạo chữ quốc ngữ vì cha Alexandre de
Rhodes là người Pháp.

Tôi đọc đoạn văn này thấy như xuất xứ từ sách của người Cộngsản Việtnam.

Các bạn trẻ đọc sách của VC xin cẩn thận. Người Cộngsản nhìn đâu cũng thấy
đấu tranh, cũng thấy tuyên truyền, cũng thấy bất công, cũng thấy hận thù...

Dù linh mục nào sáng tạo chữ quốc ngữ trước hay sau không quan trọng.
Quan trọng là sáng tạo chữ quốc ngữ để làm gì?
Người Tàu mang chữ Hán sang Việtnam để làm gì? Có phải để đồng hóa
dân tộc Việtnam không?

Kình chúc ông vui khỏe.



[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]



Re: Lịch sử quốc ngữ (I)
2008-07-11 00:39:08
Tâm Việt


Lịch sử Chữ Nôm 1
Lịch sử Chữ Nôm 2
Lịch sử Chữ Nôm 3


[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]



Re: Lịch sử quốc ngữ (I)
2008-07-11 01:01:52
Tâm Việt


Dân tộc tự trị Zhuang, Quảng Tây có tiếng Sawndip, "Cổ Tráng Tự" hệt như chữ Nôm và có ký âm La tinh như chữ Quốc ngữ. Họ cũng dùng dấu lên xuống gần như sắc, huyền hỏi, ngã, nặng ( Tone letters, Marked)

Ngôn ngữ dân tộc Tráng

Sawndip is a Zhuang word that means immature character. Though it is not clarified when was the time of its creation, but the present oldest record of this logograms is a stela built in 689, Tang dynasty. These logograms were used earlier than Vietnamese Chu Nom.
Wikipedia


[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]



Re: Lịch sử quốc ngữ (I)
2008-07-11 03:10:46
Trúc Lê


Kính mời các bạn đọc bài dưới đây của Huỳnh Ái Tông. Bài này, theo tôi, bổ túc cho bài chủ của sử gia Trần Gia Phụng:

Nguồn Gốc Chữ Quốc ngữ [chimviet.free.fr]

Trân kính,
Trúc Lê


[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]



Re: Lịch sử quốc ngữ (I)
2008-07-11 08:25:34
Tàng


Theo tôi, chúng ta có cái may mắn là được nhiều nhà ngôn ngự học sáng tác dùm chúng ta cái chữ viết. Ngôn ngữ nói thì cũa giòng giống Lạc Việt .. rất tinh túy và thâm xâu ... nhưng chữ để viết lên cái ngôn ngữ đó thì quả thật dân tộc chúng ta "chưa" có người có cái tài đó ... trong cái rủi thì cũng có cái may Người Tầu (phù) xâm lăng nước ta họ bóc trần cha ông chúng ta, nhưng nhờ họ mà hàng ngàn năm qua đi chúng ta cũng có được một thứ chữ đê mà diễn đạt ý tưởng là chữ Nôm, chỉ có chính kẻ sĩ trong nước tỏ ra đố kỵ ghen ghét sợ mất phần nên mới xuyên tạc "nôm na là cha mách qué" ... kể cũng hơi buồn cho thế hệ trước ..... Khi người Tây phương (Bạch quỉ??)đến nước ta, các giáo sĩ thuộc giáo hội Công Giáo Roma, đi theo để "mang tin mừng cho muôn dân" (lời đức Kito truyền cho môn đệ của ngài) thì họ cũng giúp chúng ta được hửơng cái mẫu tự "vừa dễ học, vừa tiên dùng" ... ngày nay chúng ta (hơn 80 triệu người mang tên VN) đều có thể diễn tả hết ý của mình nhờ cái mẫu tự này .... vì vậy theo tôi chúng ta phải có bổn phận nhớ ơn tất cả quí vị đó, dù cho họ có là Pháp, Bồ đào Nha hay tạy ban Nha ... hay nước nào đi nữa.. có thế mới xứng đáng là giòng giống Lạc Việt "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" ..... Tuy nhiên, tôi thấy vẫn có một số "đại trí" dè bưủ, chê bai và phê bình một cách có ác ý nhất là những người theo "Cộng Sản" ... không có mấy ông giáo sĩ đó thì chưa biết chừng chúng ta lại có loại mẫu tự viết theo kiểu "con giun bò" của Ả Rap qua nhửng cuộc tiên mạnh của mí ôn Islam lắm .... Thành thật tri ân Sử gia TGP đã có công sưu tầm và giaỉ thích cho đời ...


[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]



Re: Lịch sử quốc ngữ (I)
2008-07-11 13:25:26
Nguyễn Quân


Nguyên cả châu Á, chỉ có Việt Nam là lấy mẫu tự la tinh làm chữ viết cho mình (tôi có lầm ở điểm này không nhỉ ?). Một mặt, nguời Việt có đuợc dễ dàng trong việc học các ngoại ngữ tây phương qua cách viết, mặt khác, hình như qua đó chúng ta đã đánh mất một phần "identity" của mình, cái hồn á châu trong chữ viết???.
Có đuợc một cái "tool" để tiếp cận đễ dàng với những nền văn hóa khá khác biệt hơn, nhưng đánh mất một phần nào đặc trưng cũng khiến chúng ta khá dễ dãi mà ....thay đổi (gọi là thích ứng).


[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]



Re: Lịch sử quốc ngữ (I)
2008-07-11 16:49:42
Người trong nước


Cảm ơn bài viết của tác giả Trần Gia Phụng, cùng ý kiến của mọi người, nhất là bạn Tâm Việt, kiếm đâu ra nhiều links thế.


[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]



Re: Lịch sử quốc ngữ (I)
2008-07-11 22:48:16
Võ Bình


Chử quốc ngữ là một trong những cản trở của công cuộc hán hóa Việt Nam của Trung cộng.

Chử nho khó học và nếu nó còn tồn tại trong xã hội nghèo khó VN thì cái cảnh thầy đồ thầy ký làm khó dể và miệt thị dân nghèo mù chử sẽ đầy dẩy ở VN.


[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]



Re: Lịch sử quốc ngữ (I)
2008-07-11 23:10:30
Tâm Việt


Đi thi

Tấp tểnh người đi, tớ cũng đi,
Cũng lều, cũng chõng, cũng đi thi.
Tiễn chân cô mất hai đồng chẵn,
Sờ bụng thầy không một chữ gì !
Lộc nước còn mong thêm giải ngạch ;
Phúc nhà may được sạch trường quy.
Bốn kỳ trọn vẹn thêm kỳ nữa,
Á, ớ, u, ơ, ngọn bút chì.

Tú Xương đi thi phải dùng quốc ngữ.


[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]



Re: Lịch sử quốc ngữ (I)
2008-07-15 23:39:23
http://members.cox.net/diendantudo
Nguyễnbỉnhđồng





Xin lỗi bạn đọc: Avignon không phải Avigon!

NBÐ


[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]



Re: upiuxi
2009-04-12 08:07:53



buy levitra viagrapropecia online [www.juliafeyrer.org] discount generic cialis cialis uk suppliers [www.esquaredlaw.com] women cialis chat buy cheap cialis online [www.esquaredlaw.com] buy cialis canadian cialis free sample [www.esquaredlaw.com] online prescription for levitra us viagra order canada [www.anismojgani.com] cialis for women buy generic viagra cheap [www.anismojgani.com] the buy cialis propecia cialis viagra [www.feedgadget.com] cialis new viagra buy viagra here in the uk [www.mere-christianity.org] when will cialis become generic vardenafil and viagra compare [www.mere-christianity.org] cialis eli lilly best price for viagra [www.anismojgani.com] cialis prices to buy viagra how [www.mere-christianity.org] difference between viagra and levitra buy no prior viagra cialis levitra [www.anismojgani.com] buying viagra online order levitra online pharmacy [www.juliafeyrer.org] cheapest place to buy viagra online buy viagra in hong kong [www.anismojgani.com] compare cialis levitra viagra cheap cialis sale online [www.feedgadget.com] viagra buy viagra online cheap [www.anismojgani.com] buy cheap levitra online cialis comparison viagra [www.esquaredlaw.com] buy cialis on line cialis generic levitra viagra [www.feedgadget.com] to cialis buy where Đọc tiếp ý kiến này...


[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]



Re: aeoun
2009-04-12 10:27:53



levitra vardenafil hcl [agcmpejao-m.ccems.pt] buy online viagra cialis generic online [phobos.xtec.cat] cialis dream online guaranteed cheapest viagra [www.senalbasergipe.com.br] viagra side effects cheap cialis generic [www.ibs.uz] free sample cialis brochure levitra [wordslave.net] cialis viagra discount generic cialis [www.facilitare.net] compared levitra viagra cheap levitra tablet [psychologia.kampus.umcs.lublin.pl] cialis levitra sales viagra levitra result [eb23carvalhal-m.ccems.pt] viagra cialis cheapest uk supplier viagra [moodle.ufpr.br] stories on levitra viagra pills [moodle.allconet.org] cialis forum generic cialis softtabs [www.sixfiguremlmmastermind.com] generic viagra lowest prices buy viagra online inurl [tecba.edu.bo] free viagra samples effects of levitra [www.cecvirtual.com] levitra and cialis and viagra levitra online pharmacy [es

Đọc tiếp ý kiến này...


[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]



Re: iqobzbgv
2009-10-21 15:17:27



effects of levitra [www.informationandreferral.org] cheap viagra from pfizer levitra cialis comparison [www.haizhengzhang.com] generic cialis soft tabs viagra online buy [www.effimeromeraviglioso.it] buy viagra in england levitra generic cialis [www.211ut.org] buy viagra in england generic cialis soft tabs [www.haizhengzhang.com] viagra mail order uk viagra buy [www.effimeromeraviglioso.it] buy levitra us online levitra [www.floraofthefells.com] generic levitra pill levitra cheapest [www.211ut.org] is generic levitra safe compare cialis levitra viagra [www.rockyhorror.co.uk] buy cheap viagra online sale levitra [www.informationandreferral.org] cialis generic online viagra cialis levitra comparison [www.rockyhorror.co.uk] cialis vs levitra vs viagra best levitra online price [www.floraofthefells.com] discount cialis online cheap viagra pills [www.ottawaconference.org] generic levitra pill cialis 10 mg [www.rockyhorror.co.uk] kaufen levitra is generic levitra safe [www.informationandreferral.org] alcohol levitra cialis vs levitra vs viagra [www.farmdata.co.uk] levitra prices alcohol levitra [www.floraofthefells.com] buy en language levitra levitra drug [www.floraofthefells.com] buy cialis with paypal Đọc tiếp ý kiến này...


[ Trả lời ý kiến này | Đăng Ý kiến mới ]


31
DCVOnline Copyright © 1999-2007 by DCV Inc.
PHP-Nuke Copyright © 2004 by Francisco Burzi