
TT Thích Trí Quang và Mỹ (Kết)
Ngày: 31-01-2010 Đề tài: Lịch Sử
Nguyễn Văn Lục
TT Trí Quang và vai trò của Mỹ trong biến cố Phật giáo năm 1963
Trí Quang và Cabot Lodge
Cho dù việc hợp tác với Mỹ chỉ có tính cách giai đoạn thì sự thực ấy cũng không vì thế có thể chối bỏ được đã có một thời họ là những đối tác chiến lược. Việc lật đổ ông Diệm là một thành công mà cả hai bên đều hoan hỉ vỗ tay như trong một bữa tiệc thân mật giữa đại diện người Mỹ với Cabot Lodge và các chức sắc hàng đầu của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất năm 1964.
Họ đều hỗ trợ nhau trong mục đích chiến lược là lật đổ chế độ đệ I Cộng Hòa.
Người Mỹ qua Cabot Lodge xoa tay hoan hỉ vì đã thành công trong việc lật đổ ông Diệm và họ tự xác nhận, không có họ, không có biến cố chính trị1963.
Họ không cần dấu diếm nữa.
Không có Mỹ can thiệp, không có chuyện ông Diệm bị lật đổ. Người Mỹ đã chính thức nhìn nhận vai trò của họ. Stanley Karnow trong chương: The end of Diem đã viết ngắn gọn đầy đủ ý nghĩa như sau, “His collapse would had been impossible without American complicity”. ( Viet Nam: A History, Stanley Karnow, trang 227)
Việc ông Diệm bị lật đổ sẽ không bao giờ có thể xảy ra, nếu không có sự đồng lõa của Hoa Kỳ.
Phần giới Phật tử, đa số đều tin rằng biến cố 1963 là một cuộc cách mạng, một cuộc tranh đấu để giải thoát Phật giáo ra khỏi những kỳ thị tôn giáo và để đạt được sự tự do tôn giáo hoàn toàn.
Đó là chiến tích của người Phật tử mà không có ai khác dự phần. Họ tin một cách thành thực như vậy. Những sinh viên tranh đấu đã không nén được nỗi vui mừng khi viết, “1963 đã đánh dấu một chặng đường Tuổi Trẻ làm nền thao thức của cả đời người, cho nên 1963 khó quên hay không thể quên.” (Trích Những tháng ngày không quên, Thái Kim Lan).
Hơn nửa năm sau ngày 1-11-1963, Hoàng Văn Giàu, trưởng đoàn sinh viên Phật tử viết, “Ngày 1-11-1963, toàn dân thở phào sung sướng khi thấy đồng bào quân đội của mình đã tiếp tay với cao trào quật khởi để giáng cho “triều đại nhà Ngô” một cú ân huệ vào phút chót.” (Trích báo Lập Trường, thứ bảy 6-6-1964, Những cơ hội trôi qua, Hoàng Văn Giàu.)
Nhưng theo nhận xét thực tế của của Stanley Karnow thì biến động 1963 cho dù khởi đầu mang tính cách tôn giáo không lấy gì làm quan trọng, nó đã mau chóng trở thành một phong trào chính trị nhằm lật đổ một chính quyền.
 |
Người Mỹ và TT Trí Quang Nguồn: DCVONline tổng hợp
|
“The end to the Diem regime began with a religious controversy that seemed, at first, to be trivial. But it quickly crystallized the accumulated other grievances against the government and swelled into a a political upheaval.” (Trích như trên trang 278)
Cũng cùng một nhận xét như thế, trùm Colby cũng nhận xét rằng, “Colby saw the troubles as a false issue when they began, then argued they had been surpassed. Diem was the ticket, the Buddhist crisis little more than the result of unfortunately timed photos of burning bonzes...” (Trích Lost Crusader, Jonh Prados, trang 130)
Phải, thật bất hạnh cho mọi người.
Mark Moyar, dựa vào tài liệu CIA còn quả quyết hơn khi cho rằng chính quyền dù có tương nhượng gì đi nữa, TT. Trí Quang cũng vẫn tiếp tục từ chối cả hai lần, năm 1963 và sau này. Bởi vì ông chỉ ngừng phản đối cho đến khi nào chính Phủ Diệm sụp đổ.
“Over and over again, Tri Quang would refuse to accept generous concessions from the government, both in 1963 and later. During the summer of 1963, he openly stated that he would not stop protesting until the Diem government felt.” (Trích Triump Forsaken, Mark Moyar, 218. Trích lại tài liệu CIA” Situation Appraisal of the political Situation, 8-july-1963 FRUS, 1961-1963, vol. 3, 212).
Nhưng nếu Cabot Lodge vỗ tay reo mừng chia xẻ phần chiến thắng thì TT. Trí Quang vẫn muốn minh định một cách rõ ràng Phật giáo không vào tay ai và không để ai lợi dụng như trong Tiểu truyện đã ghi, “ Có điều phải nói trước, trước và sau 1963, cho đến 1975, Phật giáo Việt Nam không bao giờ nằm trong túi ai cả, măc dâu suốt thời gian này việc gì nổi lên mà không có sự khai thác riêng.”
Ông cũng là một trong số hiếm hoi những người không muốn vỗ tay quá sớm coi việc lật đổ ông Diệm chỉ là giai đoạn I và ông mong muốn thấy một chế độ chính trị thực sự không còn ảnh hưởng của ông Diệm hay Cần Lao. Điều đó hàm ý chỉ mình ông mới có thẩm quyền xác định tính chính đáng của các chính phủ ấy. Ông đã viết trong Tiểu truyện tự ghi, “Nhưng ông Ngô Đình Diệm đổ rồi, đúng như tôi dự đoán, vấn đề Phật giáo không phải kết thúc mà bắt đầu .. Từ đây sắp đi, Phật giáo ở trong tình trạng cây muốn lặng mà gió không ngừng...”
Điều ông viết trên đã cho thấy dụng tâm của ông không phải tranh đấu Phật giáo mà lật đổ một chế độ và xây dựng một chế độ mới theo mẫu thức của ông. Vì thế có thể ông nhờ Mỹ, nhưng không muốn lệ thuộc vào Mỹ.
Cho dù tạm bỏ không nói đến những gì xảy ra sau 1975 cho Phật giáo và cho riêng số phận của TT. Trí Quang thì lời khẳng dịnh trên của TT. Trí Quang chỉ có một giá trị tương đối vì thực tế đã không hẳn là như vậy.. Những bằng chứng thì thực sự không thiếu.
Xin trích dẫn lại những nhận xét của các nhà báo Mỹ khi được tin Cabot Lodge sang Việt Nam và sự biểu dương đón chào của khối Phật giáo như thế nào theo sách lược của TT. Trí Quang.
Sau khi đại sứ Nolting về Mỹ, TT. Trí Quang đã trải thảm đỏ để chào đón Cabot Lodge.
Riêng ông Diệm đưa ra nhận xét, “Về việc bổ nhiệm đại sứ mới (Lodge). Diem cho rằng Mỹ đang thay đổi chính sách và có ý loại Diệm. Điều này, theo Thuần khiến Diệm càng cứng rắn (extreme stubborness). Diệm nói với Thuần: Người ta có thể gửi 10 Lodge tới đây, nhưng tôi không để cá nhân hay đất nước này bị hạ nhục, ngoại trừ họ huấn luyện pháo binh bắn vào Dinh (Gia Long) này.” (Trích FRUS, 1961-1963, tài liệu 186. Trích lại Vài Cảm Nghĩ Về Thượng Tọa Thích Quảng Đức, Vũ Ngự Chiêu, trên chuyenluan.net)
Khi được tin Cabot Lodge sẽ sang Việt Nam đảm nhận chức đại sứ thay thế Nolting, nhà báo Halberstam một lần nữa đã nói đùa với một phát ngôn viên lãnh đạo Phật giáo, “Tôi không tin là kỳ này, đại sứ Cabot Lodge sẽ làm ông Diệm thích thú.”
Xin ghi lại nhận xét của nhà báo Neil Sheehan, rất thân cận với Ấn Quang:
“Le lendemain,18 aôut, ils firent une démonstration de leur force grandissante comme s‘ils voulaient impressionner le futur ambassadeur par les dépêches de Presse. 15.000 personnes, une des foules les plus importantes et les plus enthousiastes qu‘ils aient réunies, se rassamblèrent à la grande pagode Xa Loi pour entendre pendant des heures les discours des bonzes qui dénoncaient la tyrannie du régime et les outrages infligés au bouddhisme Viet Namiens. Les prières alternaient avec les harangues. À intervalles réguliers, les bonzes đétenaient l ‘atmosphère avec un intermède apprécíé: une plaisanterie ordurière sur Mme Nhu. Cette fois-ci, le palais n’ordonna pas à la police d’intervenir, en dépit de la provocation, et la manifestation se termina dans le calme.” (Trích L’Innocence perdue, Neil Sheehan, trang 298.)
Ngày hôm sau, 18 tháng tám, các lãnh đạo Phật giáo đã tổ chức một cuộc mít tinh thật lớn như thể họ muốn gây một ấn tượng cho vị tân đại sứ thông qua các hãng thông tấn gửi đi. Có 15 ngàn người, đó là một trong những cuộc mít tinh tập họp lớn và quan trọng nhất cũng như hăng hái nhất từ trước đến nay tại ngôi chùa lớn là Xá Lợi để được hằng giờ nghe các bài diễn văn của các nhà sư lên tiếng tố cáo sự độc tài của chế độ và sự xúc phạm lăng nhục mà người Phật tử Việt Nam phải lãnh chịu. Rồi những lời cầu kinh tiếp nối với những bài diễn từ. Và từng chặp đều đặn, các nhà sư tạo một không khí thoải mái sen kẽ giữa những bài diễn văn và lời câu kinh và đã được mọi người tán thưởng: Chế diễu một cách khá dơ dáy về bà Nhu. Lần này, dinh tổng thống đã không ra lệnh cho cảnh sát can thiệp, mặc dầu có sự gây hấn, buổi mít tinh rồi cũng chấm dứt trong sự êm đềm.
Sự gây hấn đó cho dù chính quyền có muốn giải quyết ổn thỏa cũng tỏ ra vô hiệu như nhận xét của Stanley Karnow, “Trong khi chính quyền Ngô Đình Diệm chờ thời thì phía người Phật tử đã cho nổ một trái bom.” (Trích “Viet Nam: A History, Stanley Karnow, trang 161).
Cùng một quan điểm với nhà báo Neil Sheehan ở trên Arthur J. Dommen viết một bài báo mấy ngày sau đó khi Cabot Lodge đã đến Sài gòn như sau:
“Tri Quang had planned a much bigger demonstration for august 25 to coincide with Lodge’s arrival, which had been forestalled by the government‘s actions to clean up the pagodas. As he told American Embassy officers later, the plan involved giving information to the press and government at least 48 hours in advance. The aim would have been to publicize the fact that the Buddhists believed that the Ngô family must relinquish its power.”
 | Thích Trí Quang: The Buddhist Bid for Power (4/1966), với E. Wulff (tác giả Viêtnamesische Lehrejahre, 11/1967), 1990 — Nguồn: time.com, thuvienhoasen.org, giaodiem.com
|
Trí Quang đã lập một kế hoạch cho một cuộc mít tinh lớn hơn nữa vào ngày 25 để trùng hợp với việc Cabot Lodge đến Saigon mà về phía chính quyền cũng đã trù liệu việc quét sạch các chùa trước khi Cabot Lodge đến. Sau này, TT. Trí Quang đã nói với các các nhân viên sứ quán là kế hoạch trù liệu thông báo cho báo chí và chính quyền ít nhất là 48 tiếng đồng hồ trước. Mục đích của buổi mít tinh là để phổ biến cho thấy những người Phật tử tin rằng gia đình họ Ngô phải dời bỏ quyền hành mà họ đang nắm giữ “
(Trích The Indochinese Experience of the French and the American, trang 526).
Tổ chức những cuộc mít tinh như thế thì đó là món quà ra mắt của TT Trí Quang đối với ông đại sứ Mỹ.
Những chứng từ cho thấy Mỹ can thiệp trực tiếp vào nội bộ Phật giáo
Trước hết theo báo Times of Viet Nam có sự giảm viện trợ cho Nam Việt Nam của TNS Frank Church vì:
‒ Tiền chi phí cho CIA miền Nam: có tất cả 60 toán, mỗi toán ít nhất 3 người, đôi khi 20 người, mỗi người ăn lương khoảng 8.000 mỹ kim. Như thế tổng số chi phí lên tới 1.400.000/năm. Ngoài ra còn phải chi tiêu 300.000MJK chi phí di chuyển .
‒ Cuộc đảo chánh hụt, ngày 18/8/1963, thực ra là 1/9/1963, chi tiêu mất 24 triệu Mỹ Kim, kể cả tiền thuê và nuôi dưỡng những người biểu tình, tiền in bích chương, truyền đơn và cả tiền túi. (Trích lại Vài Cảm Nghĩ Về Thượng Tọa Thích Quảng Đức, Vũ Ngự Chiêu, chuyenluan.net)
Sau khi cuộc “bố ráp” khoảng hơn 30 chùa trên tổng số hơn 4000 chùa trên toàn quốc hoàn tất. May mắn là viên trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên Huế, ông Lê Văn Dư thời bấy giờ còn giữ được tập tài liệu của Ty Cảnh sát lấy lời khai của một số người bị bắt trong đó có một số tu sĩ và Phật tử.
Tập tài liệu này chứng tỏ Mỹ đã xen vào nội bộ Phật giáo như thế nào và cho thấy cuộc tranh đấu của Phật giáo biến thành một phong trào chính trị nhằm lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm.
Tập tài liệu này cho đến nay thì tôi có thể khẳng định là tài liệu thật sau khi hỏi một số người có tên trong danh sách bị bắt xác nhận về lời khai của họ. Phần ông Lê Văn Dư nay sống ở bên Mỹ với tư cách của một nhân chứng.
Về tính xác thực của tài liệu thì cho đến nay, những người trong cuộc, chưa ai lên tiếng phản bác tài liệu này cả.
Tập tài liệu khá dày trên 100 trang đánh máy, mỗi trang được cẩn thận đóng dấu triện với con dấu ở giữa là một bụi trúc, chung quanh có in: Việt Nam Cộng Hòa, Ty Cảnh Sát Quốc gia Thừa Thiên.
Tập tài liệu đánh máy mà chữ thường bị mờ ở các chữ o, e, a cho thấy máy chữ không được chùi như thường thấy trước 1975. Lối hành văn khá chuyên nghiệp, văn gọn, chính xác, khách quan, dùng ở ngôi thứ ba. Nhưng nhất là những lời khai của nhiều người trùng hợp với nhau. Chẳng hạn như trong vụ “thiêu” nhà sư Thích Tiêu Diêu.
Nhưng nay thì đã rõ ràng hơn, theo tác giả Vũ Ngự Chiêu, người đã được chính quyền cho tiếp cận hồ sơ miền Nam Việt Nam, tài liệu Phủ Tổng Thống đệ nhất công hòa thì thật sự có tập hồ sơ này mang sô 8502 Nha CS miền Bắc TNTP bá cáo về sự can thiệp của Mỳ để khuynh đảo chính phủ .
Như vậy đã rõ ràng không cần trở lại vấn đề này nữa.
Xem thêm tài liệu về vấn đề đàn áp Phật giáo
Xét về mặt chính trị thì việc can thiệp của Mỹ vào nội bộ Việt Nam qua trung gian tòa lãnh sự Mỹ cũng như cơ quan tình báo Mỹ là điều không thể chấp nhận được. Phần các phong trào Phật tử miền Trung tranh đấu trong tình thế “chẳng đặng đừng” mà tất cả chúng ta đều là những con bài của Mỹ trong từng giai đoạn, từng trường hợp mà không dễ gì ai nói hay được.
Con bài “Thiên chúa giáo di cư” đã qua, nay đến con bài “Tranh đấu Phật giáo” mà tài liệu CIA cho thấy trong các chương trình như Asia Foundation như thế nào như đã trình bày ở trên.
Hồ sơ tối mật mang tên Tổng kết nội vụ Phật giáo và Đại Học, ghi Huế ngày 22/10/1963, tức là sau ngày bố ráp các chùa chiền hai tháng trước đây. Bản tổng kết nội vụ ghi số I.C364-CSĐB.4.M ngày 21/10/63 của Ty tôi. Ký tên: Lê Văn Dư
Những người bị bắt gồm một số đại đức và Thượng Tọa, một số trí thức, giáo sư đại và Trung học và nhân sĩ cộng với các sinh viên Phật Tử trong thời kỳ đó.
Xin trích dẫn một số lời khai tiêu biểu trong số gần 40 chục lời khai của các bị can bị bắt.Trong một chừng mực và dè dặt cần thiết là có thể phòng hờ lời khai đã bị ảnh hưởng áp lực từ phía cơ quan công lực có thế có.
Lời khai của Thích Thiện Minh ‒ Tục danh Đỗ Xuân Hạng. Nhận xét của Ty là y có nhiều thủ đoạn vặt, sâu sắc, kín đáo và khôn ngoan. Theo đó thì Thích Trí Quang có mưu đồ xây dựng lực lượng quần chúng từ trước, hậu thuẫn ở phía chính quyền có Hà Thúc Luyện đi sát với Trí Quang trong thời gian tại chức Tỉnh Trưởng. Và đáng lẽ theo Luyện cuộc tranh đấu Phật giáo đã được phát động từ Phật Đản năm ngoái và đã được trù bị hằng năm rồi, như vậy lần này không phải là ngẫu nhiên.
Y khai không có chân trong Ủy Ban Liên Phái nên không rõ chủ trương âm mưu chính trị.
Y được bố trí ra Huế tổ chức hai buổi nói chuyện kêu gọi quân dân chính tham gia phong gia phong trào đấu tranh, bố trí cho Thích Chánh Lạc nói truyện trước 15.000 người, luận điệu chống chính phủ quyết liệt, kêu gọi toàn thể Phật giáo sống chết với chính quyền.
Đương sự cũng xác nhận có sự giúp đỡ về tin tức qua lại từ Việt Nam ra ngọai quốc, đánh giúp nhữnbg điện tín từ Huế đi Sài Gòn hoặc ngược lại. Việc này do ký giả UPI làm. Cung cấp báo chí ngoại quốc cho Xá Lợi. Việc này do Đức Nghiệp và Huyền Quang liên lạc qua lại. Có một người Mỹ mật vụ, do Đức Nghiệp cho biết đã đến gặp Ủy Ban Liên Phái và nói rằng: Nếu các ngài không tin chính phủ, không thi hành Thông Cáo Chung thì các Ngài còn đợi gì ? Và nếu chính phủ bắt hết các lãnh đạo thì sao ? Ngữ khí ấy có ý thôi thúc, xúi giục khuynh đảo chính quyền và cuối cùng người Mỹ đưa ra hai nhân vật : Nhân vật Nguyễn Tôn Hoàn, Nghiêm Xuân Thiện, hỏi có biết không và ngụ ý hỏi ủng hộ người nào. Y đã trả lời cho tên Mỹ là Phật giáo không ủng hộ ai cả mà chỉ đấu tranh thi hành thông cáo chung.
Lời khai của Thích Chánh Lạc ‒ Y đến chùa Xá Lợi và nhiệm vụ ở đây là đọc và trích dẫn tất cả báo chí trong nước, ngoài nước trình cho Thich Tâm Châu. Một lần Thích Tâm Châu có đưa cho y một bức thư gửi cho đại sứ Mỹ, Nolting, để đương sự chỉnh văn, bản thảo y có đem ra Huế và bị nhà chức trách tịch thu. Sư Trí Quang có giao cho y cầm ra Huế một bức thư gửi thầy Trí Thủ và các thầy Từ Đàm. Câu cuối cùng của bức thư viết Đã chiến đấu là chấp nhận sự hy sinh mà đã không dám hy sinh thì đừng cản trở người khác hy sinh?
Đương sự nhìn nhận Mỹ đã lợi dụng phong trào đấu tranh của Phật giáo để âm mưu khuynh đảo chính phủ. Trong thời gian ở Xá Lợi, một người Mỹ tên Browne của hãng AP thường điện thoại báo tin cho Thích Đức Nghiệp và có rất nhiều người Mỹ thường tới lui tiếp xúc với Ủy Ban Liên Phái.
Lời khai Thích Mật Nguyện (tại ngoại) ‒ Tục danh Trần Lộc. Nhận xét: Tính tình vui vẻ, dễ dãi, ăn nói cởi mở, không sâu sắc, thái độ cầu an. Tỏ ra hiểu biết trong khi bị bắt giữ, thành khẩn nhận tội.. Không có ý thức chính trị, nặng về tu hành. Đương sự đã từng bàn với Thích Trí Thủ ngăn chặn những hành động quá khích của Phật giáo mà đương sự nhận thấy đi trái với vẻ thuần túy tôn giáo. Đương sự thành khẩ nhận tội trước chính phủ. Đương sự đã được chính quyền tạm phóng thích ngay từ lúc đầu để đi SàiGòn tham dự vào công tác Ủy Ban Liên Hiệp
Sinh viên Hoàng Văn Giàu (Trưởng đoàn sinh viên Phật tử, Huế) ‒ Trong cuốn nhật ký, đương sự ghi: “Đạo đối với tôi chỉ là phụ, hành động của tôi không phải hoàn toàn Đạo, mà là không ưa, không còn tin tưởng chế độ này. Hành động của tôi là đóng góp làm cho chế độ hiện hữu dần sụp đổ.” Tham gia làm Đoàn Trưởng sinh viên Phật tử, đương sự tự nhận: “Tôi đã biết đấu tranh của tôi là chỉ làm lợi cho những kẻ đầu cơ chính trị hơn là Phật giáo, song tôi vẫn phải làm, miễn sao cho chính phủ hiện hữu thua thì thôi.” Dưới sự lãnh đạo của đương sự, đoàn sinh viên Phật tử trở thành linh hồn của cuộc đấu tranh. Hướng dẫn biểu tình, phát thanh bài xích chế độ, in truyền đơn, trích dịch báo chí ngọai quốc, mạt sát chính quyền, vận động đình công bãi thị, thiêu nhà sư Thích Tiêu Diêu, kêu gọi sinh viên, học sinh nổi lên chống chính quyền. Đương sự nhìn nhận đương sự biết rõ các sư tăng đầu não: Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh, Thích Trí Thủ hướng dần đấu tranh tôn giáo vào mục đích lật đổ chính phủ mà đương sự vẫn tích cực hoạt động theo sự chỉ đạo của các sư nói trên, vì đương sự cũng muốn lật đổ chế độ hiện hữu.
Nhận xét chung của Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc gia Thừa Thiên Huế cho thấy có những đặc điểm sau đây:
Về tổ chức
‒ Cấp lãnh đạo trong Tổng Hội Phật giáo chỉ là cái mộc, hữu đanh vô quyền. Vị hòa Thượng Hội chủ giao phó mọi quyền hành và quyết đoán vào trong tay TT. Trí Quang.
‒ Thích Trí Quang và Thích Thiện Minh đã gấp rút thành lập đoàn sinh viên Phật tử Huế gồm khoảng 200 người vào đầu năm 1963 theo mẫu thức của đoàn sinh viên Phật tử Sài Gòn năm 1962. TT. Trí Quang giao cho một Thượng tọa từ Sai gòn ra và lãnh đạo tổ chức được hai kỳ họp. Vị sư ấy đã khéo léo khích động, bằng những luận điệu xa xôi xuyên tạc chính quyền. Một sinh viên Phật tử đầu não khai: Đoàn sinh viên Phật tử trở thành linh hồn của cuộc đấu tranh như: hướng dẫn biểu tình, phát thanh bài xích chế độ, in truyền đơn, trích dịch báo chí ngoại quốc, mạt sát chính quyền, vận động đình công bãi thị, tổ chức thiêu nhà sư Thích Tiêu Diêu để kích động lòng căm thù của quần chúng, kêu gọi sinh viên, học sinh nổi lên chống chính quyền.
‒ Ngày 9/81963, chính quyền đã yêu cầu Thiện Minh tháo gỡ các biểu ngữ chống chinh phủ theo tinh thần buổi họp ngày 9/8/63 và cấm dân chúng tụ họp tại Từ Đàm và Diệu Đế.
‒ Việc treo cờ Phật Đản cùng khắp nơi công cộng là do TT Trí Quang khích động cũng như việc chăng biểu ngữ, phát động quần chúng Phật Tử đấu tranh nhân dịp lễ Phật Đản bằng ba giai đoạn. Đặc biệt theo lời khai của một Thượng Tọa thì Thích Trí Quang đã bàn định kế hoạch, sắp xếp tổ chức mít tinh, căng 7 biểu ngữ trong đó 6 biểu ngữ đả kích và chống TT Ngô Đình Diệm chung quanh chùa Từ Đàm. Tất cả đều nhận chỉ thị của Thích Trí Quang. Theo công văn của tòa Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên, số 7554/TT/HO/TQ, ngày 27-4-1963 thì chỉ có biểu ngữ duy nhất được chấp nhận là: Kính mừng Phật Đản. Theo lời khai của một sinh viên Phật tử thì một nhà sư nhận thấy có những biểu ngữ chống chính phủ, nhà sư đã giật những biểu ngữ ấy vất xuống đường, Đoàn biểu tình khi đến thư viện đại học, những biểu ngữ tương tự lại xuất hiện. Một lần nữa có nhà sư khác lại giật biểu ngữ và vứt xuống đường.
‒ Một cán sự điều dưỡng khai là tại chùa Từ Đàm, Thích Trí Quang đứng giải thích các khẩu hiệu viết trên biểu ngữ và tuyên bố chịu trách nhiệm về những khẩu hiệu ấy. Nhiều lời khai cũng khai tương tự như vậy.Trong khi đó Trí Quang có tuyên bố: Nếu chính phủ không giải quyết vấn đề Phật giáo “sẽ có một vụ Đại Hàn thứ hai” (Ý nói sẽ có vụ lật đổ chính quyền).
‒ Hai Thượng tọa được phái ra Huế để trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh. Các buổi nói truyện của họ tại chùa Từ Đàm công khai chống chính phủ, kêu gọi quân nhân, công chức bất hợp tác với chính phủ. Ngày 20-8-63, trước cuộc mít tinh có khoảng 15 ngàn người tại chùa Diệu Đế, một thượng tọa công khai tuyên bố không tin tưởng vào chế độ này, kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân phải đứng lên. Theo lời khai của một sinh viên Phật tử thì anh ta có dự, Cũng vì thính giả đông đảo nên thầy đã quá lời và xa cách với người tu sĩ, đã động đến chính phủ. Tòa tỉnh đã gọi lên Từ Đàm để Thượng tọa lãnh dạo về cản ngăn, nhưng khi các thượng tọa đến nơi thì thầy đã hết nói. Một vị sư đã ngăn cản các vụ tự thiêu thì nhận được thư của Trí Quang từ Sài Gòn gửi ra mà nội dung như sau: “Đã tự mình không dám hy sinh thì đừng ngăn trở người khác hy sinh” và đương sự đoán có lẽ việc hỏa thiêu này là do Ủy Ban liên phái và sư Trí Quang khuyến khích và chủ trương.
Về sự tiếp tay của người Mỹ
‒ Mỹ đã lợi dụng phong trào đấu tranh Phật giáo để âm mưu khuynh đảo chính phủ.
‒ Tài liệu ghi thêm các nhân vật chính trị và phóng viên Mỹ công khai ra vào Từ Đàm để khai thác tin tức xúi giục hành động và giúp đỡ phương tiện truyền thông vào Sài Gòn. Đặc biệt tòa đại sứ Sài Gòn đã cho viên phó lãnh sự ở Huế và nhân viên an ninh liên lạc với Trí Quang ở Từ Đàm. Về điều này, một sinh viên y khoa Huế cũng xác nhận là: Sau này khi đương sự về Từ Đàm, có viên phó lãnh sự Mỹ ở Huế và một nhân viên USOM có đến thăm đương sự, hỏi thăm sức khỏe và việc học hành, lập trường, gia cảnh của đương sự. Sư Trí Quang còn nói với đương sự là các giáo sư y khoa, người Đức như Hotchike, Kaufmann là có công với Tổng Hội Phật giáo đã quay phim vụ đài phát thanh và mang về Sài Gòn trao cho các các tòa đại sứ và lãnh sự như: Lào, Cao Mên, Đức, Mỹ, Ấn Độ, v.v...
‒ Phần đông các bị can đều khai rằng, Phong trào Phật giáo tranh đấu ở miền Trung đều có mục đích là lật đổ chinh quyền Ngô Đình Diệm.
Đôi dòng cuối cùng
Sau cái chết của ông Diệm, người Mỹ hy vọng cuộc đảo chánh lật đổ ông Diệm sẽ dẫn đến sự đoàn kết quốc gia rộng rãi hơn và một chính quyền miền Nam ổn định để có thể tiếp tục cuộc chiến chống Cộng Sản.
Ngược lại, miền Nam đã rơi vào một khủng hoảng quyền lực phần lớn đo TT. Trí Quang gây ra. Tháng 12, 1963, một tháng sau”cách mạng” TT. Trí Quang đã nói với người Mỹ ông sẽ hoan nghênh một cuộc đảo chính nữa để lật đổ Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ, một thứ tàn dư của Diệm.
Chúng ta chỉ cần mở lại tờ tuần báo Lập Trường, do TT. Trí Quang chủ xướng. Tờ Lập Trường phản ánh trực tiếp quan điểm của Thích Trí Quang.
Nội dung ý tưởng trên của TT. Trí Quang đựợc trình bày một cách trực tiếp, thẳng thừng và không khoan nhượng trong một bài viết trên tờ Lập Trường: Mở một nước cờ. Ở cuối bài không có đề tên tác giả mà ký tên Lập Trường. Điều đó nói lên quan Điểm chính thức và dứt khoát của tờ báo. Xin tóm tắt một vài đoạn:
“Trao quyền cho quân đội là một điều cần thiết. Bởi vì sau một cuộc cách mạng, công việc đầu tiên phải làm là quét sạch những tàn tích dơ bẩn của quá khứ. Những rác rưởi dơ bẩn đó, ở Việt Nam, đã cao ngút lên đầu trong trong 9 năm qua, phi quân đội, không lực lượng nào có thể quét sạch được...
Chính quyền đã thi hành những biện pháp gì đối với các chúa tể Cần lao? Các ngài bộ trưởng của ông Diệm bây giờ ra sao? Quí vị dân biểu của ông Cẩn ông Nhu bây giờ nghỉ mát tại phương nao? Ngài Nguyên Đại Biểu chính phủ Nguyễn Xuân Khương của chúng tôi sao biệt vô âm tín?.. Chính quyền bảo rằng sẽ đem “ bọn chúng “ ra Tòa án Cách Mạng xử tuốt hết.. Nhưng với cái đà 3 tháng hai vụ như dân chúng đã thấy, bao nhiêu thế kỷ nữa mới xử cho xong?
Quan niệm chúng tôi rất rõ ràng: Không ai xây nhà trước khi san bằng nền móng..
Hôm nay, chúng tôi muốn đặt câu hỏi đó ra trước chính quyền: Nhân dân đã trao quyền cho các tướng lãnh để thi hành trọng trách quét sạch quá khứ. Trọng trách đó, chính quyền đã làm xong chưa ?”
Ký tên
Lập Trường
(Trích tuần báo Lập Trường số ra ngày thứ bảy 30-5-1964).
Lật đổ ông Diệm chỉ là bước một, quét sạch quá khứ là bước thứ hai..Chính ở bước thứ hai này là nguyên nhân và mầm mống của cái gọi là “ Biến động miền Trung” trong suốt thời gian từ 1963-1966 có nguy cơ làm sụp đổ miền Nam.
Trong cả Hai giai đoạn, TT Trí Quang đều là linh hồn của các biến động đó.
Làm chính trị thì phải có tham vọng.
Riêng TT. Trí Quang có tham vọng, vừa cao ngạo như một thứ lãnh tụ đứng trên mọi quyền lực tôn giáo và chính trị. Có thể, ông có tham vọng như một thứ Makarios III (1913-1977). Makarios vừa làm giáo chủ cộng đồng chính thống giáo Hy Lạp ở đảo Chypre, vừa là tổng thống cộng hòa Chypre năm 1960.
Nhưng người ta còn nhớ rằng, khi ở Huế, TT Trí Quang chỉ tuyệt thực có một ngày thì bị ngất síu. Sau này bị dẫn giải về dưỡng Đường Duy Tân, Ông đã tuyệt thực 100 ngày mà vẫn khỏe mạnh..
Kể từ sau ngày tuyệt thực 100 ngày naày coi như chấm dứt sự nghiệp chính trị của ông. Và với ba năm xáo trộn ở miền Trung cũng làm lu mờ đi hình ảnh cuộc tranh đấu Phật giáo miền Trung năm 1963.
“He also arrested Tri Quang, who had gone on a hunger strike, and transferred him to detention in a Saigon Hospital.
“The Buddhist Movement never recovered from the defeat”
Trích Viet Nam, History, Stanley Karnow, trang 450.
Phần ông Kỳ, nhờ Cabot Lodge mà đã hạ được ông Trí Quang trả lời cho nỗi lo lắng của Cabot Lodge về vụ tuyệt thực của nhà sư bằng nhận xét trấn an rất cay độc như sau, When Lodge expressed concern, I said, “Mr. Ambassador, don’t worry. If Tri Quang was merely a monk, then may be he would fast until death. But, he is a politician. Have you ever seen a politician die of hunger.” (Trích Buddha’s child, Nguyen Cao Ky, trang 226).
Phụ chú ‒ Vấn đề đàn áp Phật giáo
Nhân tiện nói về tài liệu, xin lợi dụng dịp này nói rộng ra về các tài liệu chứng tỏ có đáp áp Phật giáo. Vũ Ngự Chiêu có cho biết chỉ có một tập tài liệu HS 7941, ngày 20/2/1961, Tịnh Khiết gửi cho Diệm. Than phiền việc đàn áp áp Phật giáo tại Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam. Ông Diệm đã gặp ông Mai Thọ Truyền và cử Bùi Văn Lương điều tra. Lương cử trung tá Trần Văn Thưởng, Giám độc CSCA TNTP điều tra. Theo Thưởng, cả hai đều có lỗi. Chỉ xảy ra ở một vài xã. Báo cáo ngày 18-6-1962 của Bùi Văn Lương).
Tài liệu tham khảo:
‒ Tập Hồ sơ của Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết nhan đề: Hồ sơ cuộc đàn áp Phật giáo đồ tỉnh Phủ Yến, tập 2, 19 vụ khiếu nại. Tập hồ sơ 12 trang..
‒ Tập Hồ sơ: Bản báo cáo của phái đoàn điều tra L.H.Q. về vụ đàn áp Phật giáo 1963, người dịch là ông Võ Đình Cường.
‒ Tập Tiểu truyện tự ghi của TT. Trí Quang mà nội dung nói về sự thiên vị sai trái của ông Diệm như:
‒ Bắt tăng sĩ Phật giáo đi quân dịch làm những chức vụ nguy hiểm mà vô quyền
‒ Trong quân đội, sĩ quan Thên Chúa giáo nắm quyền chỉ huy ngay từ hạ tầng
‒ Chương trình Bac C, D có lý thuyết Thượng Đế và thuyết nhân vị.
‒ Sửa điện Thái Hòa thì có lưỡng long mà không có chầu nguyệt để hòng cắm Thánh giá.
‒ Ông Ngô Đình Diệm bèn bắt công chức Huế kê tên cả nhà để đưa cho anh mình bá cáo là giáo dân để cho thấy dân chúng Huế theo anh mình hết rồi
‒ Dụ số 10 được thêm dụ bổ túc, tăng cường sự hạ giá và kềm chế đối với Phật giáo
‒ Sát hại Phật tử thì có tập thể lên đến 36 người ở một nơi cùng một lúc.
‒ Ấp chiến lược thì chỗ rào chùa vào trong để để hạn chế đi lại, chỗ thì rào chùa ra ngoài để tự bắn phá.
Xin đọc và kiểm chứng từng việc một.
© DCVOnline
Nguyễn Văn Lục
|
|